THƯ GỦI BÁC VŨ KHIÊU VỀ VIỆC XÂY LĂNG MỘ THỦY TỔ HỌ VŨ VÕ |
Untitled 2
Thưa bác, ngày xưa, Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1721) Trần Xuân Yến nhờ thày
Phong thủy tìm mộ cho gia tiên mà tìm thấy mộ Ông nội Thủy tổ họ Vũ ta. Vì trọng
Phong thủy, trọng tổ tiên họ Vũ ta mà không dám chọn nơi đó làm cát địa gia tiên,
lại còn báo cho làng Mộ Trạch biết. Từ đấy, hàng năm người làng ta (Mộ Trạch)
sửa lễ đến, quét dọn, nhận để trông coi đời đời.
Cũng từ đấy về sau, nhiều lần, nhiều người hám danh, hám lợi mà mang gia
tiên lén chôn trong ngọn đồi táng ông nội Thủy tổ họ Vũ ta. Làng (Mộ Trạch) đã
tốn không biết bao nhiêu giấy mực, công sức để kiện tụng. Ngay cả viên Công sứ
Pháp cũng thấy việc lén chôn như vậy mà không hợp đạo nên đã sức cho hào lý địa
phương (Nam Sách) phải có trách nhiệm bảo vệ ngôi mộ này.
Nhờ đó, mà ngôi mộ Ông nội Ngài còn nguyên vẹn đế ngày nay. Vậy mà …
Cháu tự hỏi: “Nền nhân văn hiến” tổ tiên để lại, giờ chỉ còn thế thôi ư?
|
|
|
|
Lại nói về phóng sự “BÍ ẨN TRONG NHỮNG NGÔI MỘ CỔ” |
• Tác giả nhận một vài sai sót nhưng không dám nhìn đúng sự thật.
• Bài viết không khách quan, ngụy tạo sự vật lại đòi hỏi phản biện khoa học.
VÕ VĂN LIÊN
Ngày 12/5/2010, chúng tôi trực tiếp gửi Tổng biên tập báo Tuổi trẻ Thủ đô (TTTĐ) bài Mấy ý kiến về phóng sự “Bí ẩn trong những ngôi mộ cổ” đăng trên báo TTTĐ từ số 682, ngày 9/4/2010 của Dương Thụy Bình ( Phạm Ngọc Dương).
|
|
|

TRIỀU NGUYỄN SAI GÌ TRONG XU HƯỚNG ĐỔI MỚI CUỐI TK XIX? |
|
Untitled 2
Nhưng nguyên nhân quan trọng quan trọng
nhất - có thể nói là chủ yếu - làm cho các đề nghị đổi mới thời đó thất bại là
do thái độ bảo thủ, phản động của vua quan triều đình, tuy có lúc do tình thế
thúc bách nên có chủ trương một vài đổi mới về các mặt kinh tế, văn hoá, giáo
dục..., nhưng về cơ bản thì trong tư tưởng, cũng như trong cơ cấu chính
trị vẫn không hề thay đổi, nên không bảo đảm cho việc đổi mới được thực hiện
triệt để, trót lọt, thường là nửa chừng bị bỏ dở.
Công cuộc đổi mới nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam vì các hạn chế ngặt nghèo trên
nhất là thiếu sự tham gia của đông đảo quần chúng - nên cũng chỉ giới hạn trong
một số người, một bộ phận nhỏ bên trên mà thôi, chỉ là một xu hướng mới trong
phong trào yêu nước nói chung của nhân dân ta hồi đó.
|
|
|

ÔNG BÌNH VÔI |
Untitled 2
Ông Bình Vôi, theo tín ngưỡng dân gian lâu đời của người Việt, là ông thần giữ
của trong nhà. Bình vôi thường được làm từ đất nung, sành sứ và được dùng để
đựng vôi ăn trầu. Người ta dùng một chiếc que tre, gọi là chìa vôi, để lấy vôi
ra. Một đầu của chìa vôi được vót nhọn để têm trầu. Ông Bình Vôi là hiện vật văn
hóa lâu đời của người Việt. Theo phong tục xưa, khi đón con dâu vào nhà, mẹ
chồng mang Ông Bình Vôi lánh ra ngoài -- tỏ ý quyền lực tuyệt đối của mẹ chồng
với của cải. Bình vôi dùng lâu ngày sẽ bị vôi bít kín miệng phải thay. Người ta
không vứt bỏ những chiếc bình cũ, mà đem treo chúng ở gốc đa hay để chúng ở cạnh
các ngôi đền
|
|
|

CUỘC NAM TIẾN CỦA DÒNG HỌ VŨ – VÕ |
|
Untitled 2
II.
Họ VŨ - VÕ đã có mặt ở phía Nam Đèo Ngang từ thời nào?
Theo ý riêng của tôi dựa vào Quốc Sử và Gia Phả. Cho đến thời Nhà Lý (1010 –
1225) chắc hẳn họ Vũ gốc ở thôn Khả Mộ, huyện Đường An, đất Hồng Châu. Chỉ mới
lan tỏa về phía Nam, có lẽ mới trú ngụ ở Thanh Hóa (tức Châu Ái)? Chứ chưa thể
nào có người họ Vũ vào sống lâu dài (định cư) ở đất Hoan Diễn (tức xứ Nghệ An)?
Ngay ở xứ Thanh, họ Vũ cũng không quá chục người 2 bên bờ sông Mã và các huyện
gần biển và Trung du? Bấy giờ còn rừng cây rậm rạp, chưa khai hoang nhiều như
đời Trần (1226 – 1400). Các danh nhân họ Vũ đời Lý mới có ở Bắc Bộ.
|
|
|

BIA TIẾN SĨ TRỞ THÀNH DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI |
Untitled 2
Những bài ký trên bia Tiến
sĩ được viết bằng chữ Hán với những cách viết khác nhau, khiến cho mỗi tấm bia
như một tác phẩm thư pháp. Những bài văn bia này phần lớn đều do những danh nhân
văn hóa, trí thức lớn của đất nước soạn, nên về cơ bản là những tác phẩm vô giá,
góp phần làm nên truyền thống văn hóa, giáo dục của Việt Nam.
Có thể kể đến Bài ký đề tên tiến sĩ khoa Nhâm tuất (1442) do Thân Nhân Trung
(từng giữ chức Thượng thư bộ Lại, Đông các Đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Thử Giám)
soạn.
Trong đó có đoạn “Kính nghĩ: việc dựng bia đá là cốt để làm cho thịnh ý mưu trị
cầu hiền của các bậc thánh đế thần tông được lưu truyền mãi mãi. Đó chính là
phép lớn để rèn rũa người đời và là điều rất may cho Nho học”. Đoạn khác lại nêu
luận điểm “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, rồi lại đặt câu hỏi “ Kẻ sĩ ở
chốn trường ốc lều tranh, danh phận thật là nhỏ mọn mà được triều đình đề cao
rất mực như thế thì người mang danh kẻ sĩ phải trọng thân mình mà lo báo đáp,
đáng phải như thế nào ?”.
|
|
|
|
 |
TIẾN SĨ MƠ BỊ THẦN MỔ BỤNG, CẠO RUỘT |
Untitled 2
Vũ Duy Đoán (1625 - 1684) người xã Mộ
Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là thôn Mộ Trạch, xã
Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương).
Ông là con của Tiến sĩ Vũ Bạt Tụy nhưng
học hành rất tối dạ, đọc sách cả ngày không nhớ nổi một chữ.
Đến năm 17 tuổi chán học quá định bỏ
học mà chuyển sang nghề khác, một đêm Vũ Duy Đoán nằm mộng thấy có vị Thần cầm
dao đến vật ngửa mình ra rồi mổ bụng, cạo ruột, nạo bỏ chất đục đi. Khi tỉnh dậy
thấy nhâm nhẩm đau bụng, nhưng từ đó ngày một minh mẫn, học hành tiến bộ, văn
chương dần nổi tiếng.
Vũ Duy Đoán thi Hương đỗ đầu (Giải
nguyên), rồi thi Hội lại đỗ đầu (Hội nguyên) khoa Giáp Thìn (1664) đời Lê Huyền
Tông, làm quan nổi tiếng là người cứng cỏi, cương trực, khẳng khái, không ngại
nói thẳng. Ông giữ chức đến Thượng thư Bộ Công, tước bá, sau khi mất, được truy
tặng chức Hữu Thị lang Bộ Hộ.
Vũ Duy Đoán từng viết sách Kim giám lục dâng lên khuyên chúa giữ lòng, làm tốt
việc trị nước, nên biết người, dùng người, không nghe gièm pha được chúa khen là
bề tôi ngay thẳng.
Khi về trí sĩ, ông còn viết sách về các
phong cảnh làng Mộ Trạch, Nông gia khảo tích, Dị văn ký… Trạng nguyên Đặng Công
Chất ca ngợi: “Học thức trong bụng ông như nuốt cả gác sách Thiên Lộc, hút gác
sách Thạch Cư”.
|
|
|

MÁI CHÙA TRỤ CỘT HỒN DÂN TỘC |
Untitled 2
- Đình làng là nơi hội họp để bàn về việc làng, việc nước, việc vua, việc
quan. Nó là biểu tượng của uy quyền thế tục. Tại đình làng phải có
tôn ti, trật tự và thứ bậc đâu vào đó. Đình làng sắp đặt thể lệ, thuế má, đôi
khi cũng trở thành tòa án để xét xử những vụ tình yêu trai gái vụng trộm v.v..
Thành Hòang Làng là vị thần mà dân làng tin tưởng sẽ đem lại mưa thuận gió hòa,
mùa màng tươi tốt vì ngày xưa người dân sống về nông nghiệp.
-
Miếu, Văn Miếu
để ghi công và thờ phượng các danh nhân, các bậc sĩ phu của đất nước như miếu
thờ Cụ Cao Bá Quát, Cụ Nguyễn Du, Cụ Chu Văn An, Bà Công Chúa Liễu Hạnh, Cụ Ôn
Như Hầu, Cụ Nguyễn Công Trứ, Cụ Nguyễn Trãi, Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cụ Lê Quý Đôn
v.v.. Miếu và Văn Miếu biểu tượng cho văn hóa dân tộc.
|
|
|


GIỚI THIỆU SÁCH MỚI |
Untitled 2
MỘ TRẠCH, LÀNG KHOA
BẢNG, LÀNG CỔ VĂN HÓA
Người ta thường gọi làng Mộ Trạch là làng Tiến sĩ, “Tiến sĩ sào”, bởi làng có
đến gần bốn chục vị Tiến sĩ thời Nho học. Hiếm có một ngôi làng nào nhiều Tiến
sĩ Nho học đến như vậy. Để giải thích cho thời kỳ Khoa danh rực rỡ đó, người ta
lại hay nhắc nhiều đến phong thủy, thế đất, nguồn nước trong làng, mà ít người
biết rằng, từ cổ xưa, làng Mộ Trạch đã là một Xã hội học tập. Ngày nay, Xã hội
học tập, được nhắc đến như một khái niệm mới trong các làng đại học, khu đô thị
đại học, các đô thị hiện đại, mà văn minh đã đạt đến một trình độ nhất định,
được xã hội thừa nhận. Vậy mà, Xã hội học tập, một trong những đặc điểm của xã
hội văn minh ngày nay đã có ở làng Mộ Trạch từ hàng trăm năm trước.
Trong cổ Phả làng Mộ Trạch, thân thế sự nghiệp của các bậc tiền nhân luôn gắn
liền với sự nghiệp Khoa cử (đi học, đi thi, hay làm thày), mà tiểu sử của các vị
cũng chính là một phần lịch sử Khoa bảng của làng Mộ Trạch. Trải qua hàng ngàn
năm phát triển, hàng nghìn Sĩ tử, hàng trăm bậc Khoa danh từ Nhị trường Tam
trường, đến Hương cống, Cử nhân; hàng chục vị Thái học sinh, Tiến sĩ; từ thày Đồ,
thày Khóa đến các bậc Giáo thụ, Giám sinh, Tế tửu, Thượng thư bộ Lễ đã làm cho
làng Mộ Trạch trở thành một làng
Khoa bảng danh tiếng.
Từ một nơi hoang sơ hẻo lánh, một vùng đất trũng (Chằm), làng Mộ Trạch sớm được
tiếp cận với các giá trị Văn hóa tiến bộ. Các giá trị đó luôn được tôi luyện,
gọt rũa, vun đắp qua hàng trăm năm, lấy học vấn làm nền tảng cho sự phát triển,
làng Mộ Trạch đã trở thành một làng cổ
Văn hóa với một “Nền nhân Văn hiến” vững bền.
Tạo dựng nên ngôi làng danh tiếng- làng Mộ Trạch với Nền nhân văn hiến, truyền
thống Khoa bảng từ hơn một ngàn năm trước chính là Thành hoàng làng Mộ Trạch,
Thủy tổ dòng họ Vũ - Võ, Ngài Vũ Hồn.
Đó chính là lý do mà cuốn sách nhỏ này mang tên
Mộ Trạch làng Khoa bảng, làng cổ Văn hóa.
|
|
|

HAI VỊ ĐẠI KHOA HỌ VÕ - HÀ TĨNH MỘT NHÂN CÁCH TIÊU BIỂU NHÀ NHO XỨ NGHỆ |
|
Untitled 2
Hơn sáu thế kỷ khoa cử nho học, Hà Tĩnh có 149 vị đỗ
Đại khoa. Họ Võ đã đóng góp vào bảng vàng ấy năm vị gồm 1 vị Hoàng giáp, 2 Tiến
sĩ và 2 Phó bảng. Sau đây là hành trạng được tóm lược về hai vị Phó bảng. Tư
liệu chủ yếu dựa theo Đại Nam
liệt truyện có đối chiếu với gia phả họ Võ - Trinh Nguyên - Tùng Ảnh
|
|
|
|
|