Trang chủ Diễn đàn Tin tức Đăng ký Thư viện ảnh Hỏi đáp Video Giới thiệu Liên hệ Đăng nhập Xin chào
Danh mục
Thống kê
Đang online: 29
Truy cập hôm nay: 756
Lượt truy cập: 5,578,143
Hỗ trợ trực tuyến
Quảng cáo
SỰ TÍCH THẾ HỆ HỌ VŨ LÀNG MỘ TRẠCH Vũ Huy Phú dịch và giới thiệu

 

SỰ TÍCH THẾ HỆ HỌ VŨ LÀNG MỘ TRẠCH

Vũ Huy Phú dịch và giới thiệu

Lời giới thiệu

Sau tập “Làng Mộ Trạch, làng Tiến sĩ” đây là tập “Sự tích thế hệ họ Vũ làng Mộ Trạch” được ghi theo phả cũ và ghi tiếp các đời sau, sách có 5 phần:

Phần thứ nhất: Dịch nguyên văn bài nói đầu về thế hệ sự tích họ Vũ làng Mộ Trạch, nguyên văn bằng chữ Hán của cử nhân, Hình Bộ Lang Trung Vũ Phương Lan, viết năm 1769, có chú thích, đóng trong dấu ngoặc, và nói nội dung của sự nghiệp tục biên.

Phần thứ hai: Thế hệ họ Vũ làng Mộ Trạch từ đời thứ nhất đến đời thứ tư, bắt đầu phân ra ngũ chi, bát phái.

Phần thứ ba: Những chi (chi một và chi bốn) và những phái (phái Giáp, phái Ất, phái Bính) con cháu đã chuyển đi ở nơi khác hoặc không có người nối dõi, không còn ai ở làng.

Phần thứ tư: những chi (chi hai, chi ba, chi năm) và những phái (phái Đinh, phái Mậu, phái Kỷ, phái Canh, phái Tân) hiện con cháu còn ở trong làng.

Phần thứ năm: a)  Các phái hình thành về sau. -  b)   Phả họ Nhữ, từ phụ lục của phái Kỷ.  -  c)  Phả họ Nguyễn từ phụ lục của phái Ất. -   d)  Sơ đồ phả hệ họ Lê làng Mộ Trạch.  -  đ)   Mục lục.   e)  Phụ lục:  29 bài thơ vịnh nhân vật bổ sung cho những bài đã ghi trong phần dịch phả.  -   g)   Bàn về  nét  (tục biên)

“Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích” nói gọn là Phả họ Vũ làng Mộ Trạch do những thâm nho, có học vị Tiến sĩ, cử nhân, tú tài viết năm 1769, là di sản văn hoá quý giá, của họ Vũ trong làng Mộ Trạch. Đầu thập kỷ cuối thế kỷ 20, trong làng, không ai lưu giữ được toàn vẹn. May thay, năm 1993, có bản photocopy, từ vi phim của viễn đông bác ở Sài Gòn gửi về gồm 3 tập: Mộ Trạch ngũ chi phả, Mộ Trạch bát phái phả, Mộ trạch bát phái đồ phả. Ta lưu giữ 3 bản ấy làm bản gốc.

Trước đây, cũng đã có bản dịch phả họ Vụ Mộ Trạch ra chữ quốc ngữ. Nhưng không có quyển nào dịch được đầy đủ cả. Riêng có quyển dịch của cụ Vũ Hoằng Nghị có đủ 5 chi, 8 phái, nhưng đến năm 1993 bị rách nát, không còn, thật đáng tiếc!

Gần đây, do chưa đọc kỹ quốc sử, thời nước ta bị nhà Đường đô hộ, không nghiên cứu kỳ phả họ Vũ Mộ Trạch của một số tác giả viết báo, viết văn tế, nói những điều không đúng với quốc sử, với phả, đây cũng là điều đáng tiếc!

Tới năm 1981, được nghĩ hưu về làng, cùng bạn cố hương sưu tầm di tích cũ, đọc kỹ những bản dịch phả còn lại, đọc kỹ bản gốc bằng chữ Hán, biên dịch thành quyển “Sự tích thế hệ họ Vũ làng Mộ Trạch” giúp bạn đọc là người họ Vũ Mộ Trạch và người ngoài họ Vũ biết rõ nguồn gốc họ Vũ Mộ Trạch, 5 chi, 8 phái của họ Vũ để gặp những thông tin chưa chính xác thì phân rõ được phải trái. Không theo những điều hư cấu, nâng cao quá mức. Con cháu các chi, phái còn tồn tại ở làng, cần theo gương cha ông, lo tiếp tục ghi phả một cách khoa học, chính xác, để phả các chi phái nói đến vô cùng, trong giang sơn đổi mới.

Vì hiểu biết có hạn, nếu còn khiếm khuyết điều gì, xin được rộng lượng bổ khuyết, cho tôi cảm tạ vô cùng.

                                               

Năm 2000, người sưu tầm và biên dịch.

Cháu đời thứ 16, phái Kỷ họ Vũ làng Mộ Trạch Vũ Huy Phú.

PHẦN THỨ NHẤT

SỰ TÍCH THẾ HỆ HỌ VŨ LÀNG MỘ TRẠCH

BÀI MỞ ĐẦU

1.     Dịch nguyên văn bài “Mộ Trạch Vũ Tộc Thế Hệ” của Vũ Phương Lan:

Nhà có phả hệ, như nước có phả ký, để con cháu đời sau biết mình do đâu mà tới, càng lâu, càng không bao giờ quên.

Nước Việt Nam ta là nước có văn hiến. Các nhà nổi tiếng và họ lớn, không nhà họ nào không có phả hệ. Họ kế thế lâu dài như họ Vũ ta, kể cũng ít vậy. Người ta vẫn là họ Vũ ở huyện Đường An (sau đổi tên là huyện Bình Giang).

Nhưng tổ tiên đời trước, tự tay viết để lại thì chỉ có mấy cuốn:

a.                  Đồ dẫn biên: (sơ đồ hướng dẫn): của Hằng trai trưởng công Vũ Dự (Vũ Dự là con cụ Vũ Vinh Phu, cháu cụ Vũ Hữu, đời thứ 7, 3 họ Vũ, năm 1460, tham gia hạ Lê Nghi Dân, đưa Lê Thành Dân lên ngôi, được phong là Minh nghĩa công thần, sự tích chép ở chi 3, phái)

b.                 Biệt đồ ký (ghi sơ đồ đặc biệt):  của Phác Trai tướng công Vũ Duy Chí (Vũ Duy Chí, thuộc đời thứ 10, chi 5 họ Vũ, khai tổ của họ ngũ chi, nhà thờ Quang Chấn Đường, đỗ Thư toán, làm quan triều Lê, Trịnh từ năm 1628 đến năm 1679, chức cao nhất là Tể tướng quốc lão, tước Phương Quận Công, còn bia ghi lại ở làng).

c.                  Các tập truyện lý của Viên ngoại lang Thức Trai Công Vũ Hiệu. (Vũ Hiệu thuộc đời thứ 10, chi thứ 1, họ Vũ).

d.                 Hoặc lời ghi chép của Thư tham chính Xuân Trạch hầu Vũ Phương Đề (Vũ Phương Đề, thuộc đời thứ 13, chi 5, hậu ngũ chi thứ 4, nhà thờ Vĩnh Bảo Đường, đỗ Tiến sĩ, khoa Bỉnh Thìn, 1736, viết quyền “Công dư tiệp ký”).

e.                  Cùng bia từ đường các chi (đã dịch ra quốc ngữ những bia hiện còn, viết trong quyển “Làng Mộ Trạch, làng Tiến sĩ”.

Những thứ đó, có thứ sơ lược, có loại chỉ được một khía cạnh nào.

Đến thơ luật Đường như tập “Tư Hương vận lục” (tập thơ nhớ quê hương) của Tô Quận Công Lê Quang Bí (Lê Quang Bí, thuộc đời thứ 7, họ Lê làng Mộ Trạch, đỗ Hoàng giáp khoa, năm 1526). Tuyệt cú thi (thơ bốn câu) của Thọ Lĩnh Bá là tên hiệu của Vũ Công Đạo, thuộc đời thứ 6, phái Đinh họ Vũ, đỗ Tiến sĩ khoa 1659). Những bài thơ ấy thường chỉ phác họa sự tích của từng vị, chứ chưa thâu tóm có đầu đuôi để biên tập được đầy đủ.

Đối với tiền bối xưa kia, văn sĩ ngày nay, việc trước thuật xét ra không phải là việc khó không làm được. Nhưng có vị giữ chức quan, thì còn lo lắng suy nghĩ việc công; có vị mải miết trau dồi nghệ thuật văn thơ để chờ kịp khoa, nên chưa lúc nào rảnh rỗi mà làm được.

Tôi là kẻ sinh sau, đẻ muộn, nhờ được phúc cẩn của tổ tiên, đứng vào hàng thứ 3 trong năm chi (đây là nói Vũ Phương Lan thuộc đời thứ 15, chi 3 họ Vũ), tuy vụng về, kém tài, mà có lòng hiếu cổ, tưởng nhớ người xưa, tự thấy không làm ngơ được.

Kính nghĩ: Đức tị tổ thượng thần đại vương mở đầu dòng họ ta, nguyên là nhân hào ở Bắc quốc, nước Trung Quốc (đây là nói Vũ Hồn làm An Nam Kinh lược sứ từ 841 đến 843 ) sang làm quan mục ở nước ta trước cả Cao Biền (Cao Biền sang làm Đô Hộ Tổng quản Kinh lược chiêu thảo sứ thay Trưởng Nhân năm 864) giỏi thuật phong thủy, đã trù liệu trước để mở lối thi, thuê, cho nên đạo học của Sĩ Vương nhà Hán (đây là nói Sĩ Nhiếp, thời nước ta thuộc Nhà Hán, năm 207, lĩnh chức Thái Thú quận Giao Chỉ, tức nước ta, đem chữ Trung Quốc, đạo Nho, sang truyền bá ở nước ta, Ngô Sĩ Liên, nhà viết sử nước ta, cho rằng: người nước ta thông thi thư, hiếu lễ nhạc, trở thành một nước văn hiến là bắt đầu từ Sĩ Nhiếp. Tục truyền: sau khi Sĩ Nhiếp mất, đến cuối đời nhà Tần, cách xa hơn 600 năm, người lâm ấp vào cướp, đào mả Sĩ Nhiếp lên, thấy thân thể, diện mạo vẫn nguyên như lúc sống, liềm đắp lại. Nhân dân vùng ấy cho thế là Thần, dựng miếu để thờ, gọi là Sĩ Vương Tiên – Theo Việt sử thông giám cuơng mục) mới được như thế. Tổ ta đến, mở mang ở nơi đây tức là gây dựng nhân quả muôn vạn năm cho ngày nay vậy.

Có Tổ tiên mở lối, thì con cháu mới được thịnh vượng về sau. Kế đó, cha con Vũ Nạp mở rộng lòng từ, tức là khởi nguồn phúc cho họ ta. (Vũ Nạp đầu triều Trần, đỗ khoa thi Tam giáo năm 1247. Triều Trần từ năm 1226 đến 1400. Từ Vũ Hồn mất năm 853 đến đầu triều Trần cách nhau 373 năm). Rồi đến anh em Vũ Nguyên Tá, Vũ Hán Bị, con trai Vũ Nạp, cùng đỗ Thái học sinh, tức Tiến sĩ, khoa 1304, cắm lá cờ đỏ cho nền tự văn họ ta vậy.

Từ đó mà đi, các chi sinh ra các bậc danh nho, quan to, không đời nào thiếu. Người trong năm chi, mà rực rỡ hơn đời trước thì có Thường thư Vũ Hữu (đỗ Hoàng giáp, khoa 1463, thời Lê). Có Thái bảo Vũ Tráng (thuộc đời thứ 5, con ruột Vũ Hữu, tổ chi thứ 4) có Đình Ủy Vũ Phong (thuộc đời thứ 5, em ruột Vũ Tráng, tổ chi thứ 5). Kế sau đó Huyện doãn Vũ Tuỳ (con cả cụ Vũ Bá Khiêm, tổ chí thứ 1, anh Vũ Hữu). Quả là dòng dõi thế tộc. Chẳng khác nào dòng họ của Chi tử ở đất Sằn, Thiểu Tử ở Thần Dương vậy. (Dòng họ Chi tử ở đất Sằn, Thiếu tử ở Thần Dương đều là những dòng họ nổi tiếng bên Trung Quốc).

Về chi gái (người họ Lê ở Thanh Hóa đến lấy con gái họ Vũ rồi đến Mộ Trạch, con cháu thuộc chi gái họ Vũ Mộ Trạch sinh ra có một Trạng nguyên Lê Nại (khoa 1505), hai hoàng giáp là Lê Tú (khoa 1511), Lê Quang Bí (khoa 1526), đâu phải là những người nổi tiếng không xuất hiện với đời?

Còn sàn sàn về sau, thì người trong chi có thị lang Vũ Tự Khoái (con cả cụ Vũ Quốc Sĩ, đời thứ 10 họ Vũ, khai tổ hậu ngũ chi thứ nhất, nhà thờ “Vĩnh Viễn Đường”, tước Trung Quận Công), tể tướng quốc lảo Vũ Duy Chí, thượng thư  Vũ Phương Trượng (con thứ tư cụ Vũ Quốc Sĩ, đời thứ 10 họ Vũ, khai tổ hậu ngũ chi thứ 4, nhà thờ “Vĩnh Bảo Đường”, tước Hương Quận công). Do đường chính học thì có Hoàng Giáp Vũ Bạt Tuỵ (khoa 1634, con thứ hai cụ Vũ Quốc Sĩ, đời thứ 10 họ Vũ, khai tổ hậu ngũ chi thứ ba, nhà thời “Thế Khoa Đường”). Tiến sĩ Vũ Cầu Hỏi (khoa 1659, con thứ 5 cụ Vũ Quốc Sĩ, đời thứ 10 họ Vũ, khai tổ hậu ngũ chi thứ 5, nhà thờ “Mạc Xá Đường”, sau đổi là “Nhuận Trạch Đường”). Khác nào dòng dỏi nhà họ Tiêu, họ Đậu là hai họ có tiếng đỗ đạt nhiều bên Trung Quốc.

Trong tám phái, phái Giáp có hoàng giáp Vũ Quỳnh (khoa 1478), phái Ất có Vũ Cán hoàng giáp khoa 1502; Vũ Trác Lạc Tiến sĩ khoa 1656; phái Bính có Vũ Bình Tiến sĩ khoa 1562; phái Đinh có Vũ Công Đạo Tiến sĩ khoa 1659; Vũ Công Lượng Tiến sĩ khoa 1656; phái Mậu có Vũ Đăng Long Tiến sĩ khoa 1656; phái Kỷ có Vũ Huy Đĩnh Tiến sĩ khoa; Vũ Công Bình Tiến sĩ khoa 1664, phái Canh có Vũ Lân Chỉ Tiến sĩ khoa 1520.

Khoa thi hương thi hội, có khi trong nước lấy đỗ Tiến sĩ 6 người thì họ Vũ Mộ Trạch chiếm ba (khoa 1656 có Vũ Trai Lạc, Vũ Đăng Long, Vũ Công Lượng cùng đỗ) về khoa mạc từ xưa ít nơi được như thế.

Làm quan ở các ban trong triều có chừng trăm người, thì họ Vũ ta có đến 17 người. Kể về làm quan, thì từ xưa được như thế là chuyện lạ (ấy là vào thời Lê, Trịnh từ năm 1634 đến năm 1754).

Phong Trai Công tức hàn lâm Vũ Như Mai, thời Trần, chỉ nhởn nhơ chốn văn chương mà nhận chức ở Ty Thị Thảo. Ước trai công, tức Thượng thư Vũ Hữu, cầm cân nẩy mực mà có danh dự lớn trong làng văn. Tài giỏi về sử, và làm thơ, có các tiên sinh đỗi trai Vũ Quỳnh, tùng hiên Vũ Càn, cùng với Trình an (Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm), Giáp kề (trạng nguyên thời Mạc) thành bộ tứ. Tài văn chương sát phạt kính động thì có các ông Đường Xuyên Tử, Vũ Duy Đoán (tiến sỉ khoa 1664), thọ lỉnh bá Công Đạo sánh vai với Chu Văn An và Lê Cảnh Chân.

Hồ Ninh tức Vũ Duy Hài, có mưu hay mà thắng trận Hồng Đàm, thời Lê Trịnh. Nhờ có mưu hay như Trần Như Tử (tức Trần Bình một tướng tài của Trung Quốc) mà thức trai Vũ Dự đeo ấn nguyên suý, vẻ vang được vua phong tặng thái ấp, bỏ công đọc sách “Kê cổ lục” (sách binh thư) suốt năm canh. Túc hiên tức Vũ Tự Khoái, Phái trai Vũ Duy Chí dựng nên sự nghiệp của Tiêu, Tào, Phòng, Đỗ (4 tướng giỏi bên Tàu không đỗ cao mà làm nên sự nghiệp) để tiếng thơm vạn cổ.

Lảm hiên, tức Vũ Đăng Hiển (thuộc đời 12, chi 2 họ Vũ), đốc bộ Vũ Duy Cung (thuộc đời thứ 13, chi 5, hậu ngũ chi thứ 3) con cụ Vũ Bật Lại, giỏi giang về văn chương như Âu, Tô, Hàn, Liễu (bốn nhà văn giỏi nước Tàu) trăm năm đọc lại còn thích thú.

Những người  khác như Trạng vật Vũ Phong, trạng cờ Vũ Huyên đều nổi tiếng.

Linh phật Vũ Lương (thuộc đời thứ 11, chi 3 họ Vũ, đỗ Tiến sĩ khoa 1643), Hoạt phật Vũ Đăng Khu (thuộc đời thứ 13, chi 2 họ Vũ) đều rực rỡ cả.

Có những người ứng với 5 con rồng như Vũ Tự Khoai, Vũ Bat Tuỵ, Vũ Duy Chí, Vũ Phương Trượng, Vũ Cầu Hội (thuộc đời thứ 10, chi 5, là con cụ Vũ Quốc Sĩ đều làm quan to dưới triều Lê Thịnh, khai tổ của hậu ngũ chi). Hoặc có những người được gọi là ba con hổ như Vũ Đình phúc (thuộc đời thứ 12, chi 3), Vũ Khắc Tiến (thuộc đời thứ 12, chi 3), Vũ Trọng Trình (đời 12, chi 3, đỗ Tiến sĩ khoa 1685). Tài văn chương dệt gấm thêu hoa có Vũ Phương Dề, văn chương khi tiết có Vũ Hiệu (đời thứ 10, chi 1). Dấu vết mạch đạo dằng dặc hơn 900 năm (kể từ khi hình thành là đến năm 1769, là năm viết phả). Số người đỗ nên khoa giáp, làm quan to, đeo ấn nguyên suý, phất cờ binh nhung, gài hổ phù, mặc phẩm phục, giữ chức dạy học và các sĩ tử, không kém hàng trăm nghìn.

Xưa có câu: “Con cháu tài giỏi, họ to lớn lên”, như thế không phải là thịnh vượng về nhân tài hay sao?

Lại có câu: “Nhà tích điều thiện, tất có nhiều phúc”, như thế không phải báo ứng về điều thiện hay sao?

Nay như sách “Thiên Phật danh kinh”, tức là sách đăng khoa lục, cùng với Việt Nam sử ký, do các nhà trước kia ghi chép nên cũng có thể thấy khái quát  như thế. Tuy sau các cuộc binh lữa biên chép chổ còn chổ mất, tránh sao không có chổ sai sót. Suốt thời thượng cổ từ cuối đời Đường (khoảng 936) đến đầu triều Nguyên (1260) Đường và Nguyên là họ làm vua nước Tàu) đều là thất truyền.

Đến như hạng gọi là ông Thi, bố Thi, ông Bông đều là người không biết gì. Còn năm chi, tám phái, kể đã rõ ràng. Những người có công danh cao chót vót, nhan nhản mọi người đều mắt thấy tai nghe, ai có thiện ý mà lại, không muốn nêu lên làm cho rực rỡ, để làm mực thước khuôn mẫu cho tương lai.

Tôi nghĩ kỹ điều đó, nghiên cứu tinh tường, cùng anh em họ là Vũ Tông Hải (thuộc đời thứ 10, phái Kỷ), cháu là Vũ Thế Nho (thuộc đời thứ 15, chi 5, hậu ngũ chi thứ 2) lần xem các tập đồ và phả, tham khảo các bản biên chép, thâu tóm lại thành quyển tộc phả. Trong đó, nói rõ sự tinh đời, ngày huý, mồ mã, có sách ghi chú thơ ca, lớn như chứng minh, đều rất rõ ràng. Con như văn tế, văn bia, cùng các bài thi cử, các tác phẩm soạn thuật, phụ lục phía sau sách. Chia làm 2 quyển thượng và hạ. Mùa xuân năm Đinh Hợi (1767), khởi thảo mãi đến mùa thu năm Kỷ Sửu (1769) mới xong. Bám đốt ngón tay, không ngờ đã ba năm vậy.

Biên chép xong, có xin người trong họ là đương triều quý quan thiềm sai chi công phiên, hàn lâm viện thị hữu Vũ Quý Hầu (tức cụ Vũ Huy Đĩnh đời thứ 10, phái Kỷ) Nhuận Chính.

Lại mời các phái lại, đều sao viết mỗi phái mỗi bộ để truyền đạt rộng rãi.

Những ai hậu tiển cần có chí thuật tiếp theo. Rồi từ nay về sau cứ kế thừa mãi mãi, đem các thể thứ biên chép về sau, để mà nhờ vào sự linh ứng giúp đỡ của thượng thần, vào phúc thừa yên vui của tiên tổ, cho đời đời khoa giáp, đời đời công hầu, đời đời văn võ, con cháu được dài lâu cùng trời đất.

Sách địa lý có lời quyết: đời đời đỗ cao (thể xuất danh khôi), cũng có câu : con cháu tốt đẹp  (tử tôn tể mỷ) cũng là nói lên điều đã nói ở trên chăng!

Bởi thế viết làm bài tựa.

Triều lê cảnh húng (1740 – 1785) năm thứ 30 (1769) là năm Kỷ Sửu, triệt trọng thu (tháng tám) ngày lành.

Mâu Lâm lang, Hình Bộ Lang Trung, Vũ Phương Lan (cháu đời thứ 15, chi thứ ba họ Vũ) Cẩn chú.

PHẦN THỨ HAI

THẾ HỆ HỌ VŨ MỘ TRẠCH TỪ ĐỜI THỨ NHẤT ĐẾN ĐỜI THỨ TƯ

SỰ PHÂN CHIA RA NGŨ CHI BÁT PHÁI.

 

Đời thứ nhất:        Vũ Nạp, tổ đời thứ nhất họ Mộ Trạch, hoặc gọi là thuỷ tổ họ Vũ Mộ Trạch. Lúc nhỏ học đạo Nho, thông hiểu kinh điển Phật giáo và Lão giáo.

Đời thứ hai: Vũ Nghiêu Tá, con trưởng cụ Vũ Nạp cùng em là Vũ Hán Bi thi đậu Thái học sinh (tương đương Tiến sĩ) triều vua Trần Anh Tôn (1293 – 1314) khoa Giáp Thìn (1304) Vũ Nghiêu Tá làm quan đến chức nhập nội hành khiển, hữu thị lang. Vũ Hán Bi đổi tên là Nông làm quan đến chức nhập nội hành khiển, thượng thư, tả thị lang, trung thu môn hạ, tặng chức tả bộc xạ. Đây là 2 Tiến sĩ đầu tiên của họ Vũ Mộ Trạch.

Vũ Nghiêu Tá sinh 2 con trai là Vũ Nhữ Mai, Vũ Nhữ Tiếp. Vũ Hán Bi có bao nhiêu vợ con không rõ.

Đồng thời nói Vũ Nghiêu Tá, Vũ Hán Bi làng Mộ Trạch có Tạ Tiếng Công, đỗ khoa Tam giáo, làm quan và về trí sĩ ở xứ Đồng Chúc, sau đi đâu không rõ.

Đời thứ ba:  Vũ Như Mai, con trưởng cụ Vũ Nghiêu Tá, được hưởng tập ấm. Theo học ở Quốc Tử Giám. Sớm đỗ Hương tiến (cử nhân) làm quan đến chức Chính tự ở Hàn lâm viện. Tài thảo chế, chiếu, biểu phải suy là bậc nhất. Hiệu là Phóng Trai Tiên sinh. Cụ bà người cùng làng, tên là Vũ Thị Tất Giới sinh 3 con trai là Vũ Bá Khiêm, Vũ Trọng Phục, Vũ Quý Tế.

Vũ Như Tiếp, con thứ hai cụ Vũ Nghiêu Tá, làm quan đến chức Chuyển vận phó sứ lộ Đông Đô, nay là thành phố Hà Nội. Hiệu là Đoan Nhân Thượng sĩ. Không nó rõ vợ con.

Xét hệ phả họ ngoại cụ Vũ Như Mai, thuỷ tổ là Vũ Hiên, giỏi âm luật, làm quản giáp sinh thị Việt. Thị Việt sinh Thị Hiện. Thị Hiện sinh Vũ Ân. Vũ Ân sinh Vũ Chinh. Vũ Chinh lấy Vũ Thị Phụng sinh Vũ Thị Tất Giới[1].

Đời thứ tư:  Vũ Bá Khiêm, con trưởng cụ Vũ Như Mai, đỗ Hương tiến (cử nhân) làm quan thời Trần, chức An Hộ Phó sứ lộ Quý Hoa (nay là các tỉnh Yên Bái, Lao Kay). Trí Sử lấy Tử Ấm, thưởng tặng chức Thiêm Tổng Tri, tên tự Ích Phu, hiệu Độn Trai. Mộ ở Mả Miễu. Ông là Thái tổ nhà thờ “Truy viễn đường”, nhà ở ngõ Thượng Trí, nơi long đỗ (rốn rồng), có cây thông cao vút, có bụi Văn Côi. Cụ bà là Vũ Thị Nương, ấm phong Lệnh nhân, sinh 5 con trai, 1 gái. Năm trai là Vũ Tuỳ, Vũ Tấn, Vũ Hữu, Vũ Tráng, Vũ Phong. Một gái là Vũ Thị Vàng lấy Lê Đạc, đời thứ 5 họ Lê làng Mộ Trạch, sinh 3 trai: Lê Đỗng đỗ cử nhân; Lê Nại đỗ trạng nguyên, Lê Tư đỗ hoàng giáp.

Tô Quận Công (Lê Quang Bí) có thơ về cụ Vũ Bá Khiêm như sau:

Tích dịch hoa lông quán trạch thôn.

Tằng ưng phó chức nhiệm danh phiên.

Dĩ như huệ chính an chưng thứ,

Hựu tích âm công dĩ tử tôn.

Hương hỏa bách niên kim vị mẫn.

Thi thứ nhất mạch cổ do lớn.

Tể suy dịch lý nghi chung cát.

Châm hốt thiền liên lụy nhất môn.

Dịch nghĩa: Dòng họ nho tông Mộ Trạch thôn.

Làm quan biên ải tiếng dân khen.

Yêu dân ân huệ còn dư tiếng,

Lo tích âm công đến cháu con.

Hương hỏa trăm năm không dể dứt.

Thi thư một mạch vẫn chuyên tròn.

Trải qua dâu bể đều tươi tốt.

Châm hốt liền liền rực rỡ toàn môn.

Tùng Hiên Vũ Cán có bài thơ vịnh cây thông nhà thờ. Truy Viễn phỏng dịch như sau:

Tiên tổ, từ xưa, giống kiệt anh

Trước nhà thờ sẳn đất màu lành.

Lưng trời xoe tán, khoe tươi thắm.

Vạn đặm gió đưa, rộn tiếng thanh.

Đỉnh đạc mốc cao người ngăm bóng.

Hiên ngang vẫn quý của lầu thành.

Đáp lời phúc ấm nhiều khôn kể.

Kiều một nhà xưa mãi nhớ danh.

Lại có bài tán cây thông: Tham thiền đại sái, thập lý phong thanh, cố gia kiếu mộc, ấm cặp môn đình. Dịch nghĩa: Lưng trời sắc thắm, mười dặm đã nghe thấy tiếng, cây cao của nhà ta xưa, tỏa bóng rợp kín nhà cửa.

Phả còn chép bài: Thái hoa thuyết (nói về sự hái hoa), phỏng dịch như sau: Phía tây bắc nhà thơ Truy Viển có cây Vân Côi (tức cây trai thú) Rể gốc soắn suýt, cành lá sum xuê, mùa hè hoa lắm, hương tỏa khắp nơi. Có người làng ra khỏi nhà, đến chổ có cây, thư thả mà hái. Có người sương chưa tan đã đến, có người đến lúc mặt trời đứng bóng, xế chiều cầm cành khôi mà khôn suy nghĩ. Thích khí, tìm hương, tham được nói bừa. Cứ hái đầy tay, đầy giỏ. Rồi về, coi như việc thường không đoái nữa.

Ôi! Những việc trong thiên hạ, đều có gốc, có ngọn. Không lo cái gốc, chỉ cốt cái ngọn, sao gọi là hợp lý được. Lấy tu thân, tề gia làm gốc. Nay người làng ta chỉ vụn vặt biết hái lấy hoa, mà không nghĩ đủ gốc. Khá bảo là cái lòng không hai, rõ được cái này, thì quên cái kia như hái hoa để lấy hương thơm, mà không biết sửa mình có đức thơm. Hái hoa để lấy cái đẹp mà không lo cầy cấy và cấy cho mình cái đức để làm thân thêm đẹp. Cấy cái đẹp để nuôi thân, tựa như hoa lấy phấn trang sức bề ngoài, thơm có một thời, không cần cân nhắc nặng nhẹ để chọn lựa sao? ngu72i quân tử nói trồng cây dâu, cây thạnh, mà chẳng trồng hoa, khả bảo là biết gốc vậy. ta nay chặt gốc bỏ rể, làm cho cây quý không sinh mầm, nẩy lọc đề vườn xa. Bảo người làng không được xa gốc mà ưa ngọn, không biết nhà thờ ta thờ cúng ai, không hiểu lời ta nói làm sao vậy? (Tác giả Vũ Đoan Biểu, đời thứ 7, họ Vũ Mộ Trạch).

Trong các quyền phả bằng chữ Hán đều thấy chép le bái điều này, ca tụng cụ tổ sinh ra ngũ chi, bát phái, lấy cây thông ca tụng sử nghiệp của họ Vũ, lấy việc hái hoa mà khuyên con cháu làm điều thiện, ăn ở có gốc, có ngọn.

Nhà thờ Truy Viễn, thờ tổ tiên họ Vũ làng Mộ Trạch, từ cụ tổ đời thứ nhất đến đời thứ 5, năm cụ khởi tổ của 5 chị họ Vũ, và bà Vũ Thị Vàng lấy chống họ Lê là họ làm rể họ Vũ. Nhà thờ, cây thông, cây văn côi nay không còn, nhà thờ đỗ nát, phá trụi hết. Khu đất nhà thờ được tôn cao làm nhà mẫu giáo. Nhiều người muốn duy trì lại nhà thờ này mà chưa làm được.

Sang thế kỷ thứ 16 và 17, sau đời thứ tư, cụ Vũ Bá Khiêm, thì phả họ Vũ Mộ Trạch phân ra ngũ chi, bát phái (năm chi, tám phái).

Chi thứ nhất, cụ Vũ Tuỳ, con trưởng cụ Vũ Bá Khiêm, làm khởi tổ, nhà thờ “Truy Viễn Đường” truyền đến đời thứ 14, Vũ văn Chấn không có con trai tiếp nối.

Chi thứ hai, cụ Vũ Tấn, con thứ cụ Vũ Bá Khiêm làm khởi tổ, nhà thờ “Đức Nghiệp Đường” sau đổi là “dôn hiếu đường” và “Dôn Đức đường” con cháu còn truyền đến ngày nay đời thứ 20, 21, 22 …

Chi thứ ba, cụ Vũ Hữu, con thứ ba cụ Vũ Bá Khiêm, làm khởi tổ, nhà thờ “Hiển đức đường” con cháu còn truyền đến ngày nay đời thứ 20, 21, 22 …

Chi thứ tư, cụ Vũ Tráng, con thứ tư cụ Vũ Bá Khiêm làm khởi tổ, đến đời thứ 15, Vũ Đình Thuyên di cư về quê mẹ ở xả Vân Đồn, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình.

Chi thứ năm, cụ Vũ Phong, con thứ năm cụ Vũ Bá Khiêm, làm khởi tổ, nhà thờ “Lê Trạch Đường”. Đến đời thứ 9, ngoài ngành trưởng và vài ngành thứ, cụ Vũ Quốc Sĩ sinh 5 con trai, đều làm nên danh vọng, con cháu đông, lập mỗi cụ một nhà thờ gọi là “hậu ngũ chi”, cụ đứng đầu mỗi chi là đời thứ 10 họ Vũ Mộ Trạch, kể từ cụ Vũ Nạp. Đó là:

1.     Vũ Tự Khoái, nhà thờ “Vĩnh viễn đường”.

2.     Vũ Bạt Tụy, nhà thờ “Thế Khoa Đường”.

3.     Vũ Duy Chí, nhà thờ “Quang Chấn Đường”.

4.     Vũ Phương Trượng, nhà thờ “Vỉnh Bảo Đường”.

5.     Vũ Cầu Hối, nhà thờ “Mạc xá đường”, sau đổi là “Nhuận Trạch Đường”

Con cháu truyền cho đến ngày nay, đời thứ 20, 21, 22.

Nhà thờ “Quang chấn đường”, nhà thờ “Thế Khoa đường”, nhà thờ “Vĩnh bảo đường”, nhà thờ “Lê Trạch đường”, còn bia để lại và được dịch ra chữ quốc ngữ, xem ở tập “Mộ Trạch, làng Tiến sĩ”.

Con cháu dòng thứ của bốn đời đầu tiên họ Vũ làng Mộ Trạch, tức là con cháu cụ Vũ Hán Bi (con thứ cụ Vũ Nạp), con cháu cụ Vũ Như Tiếp (con thứ cụ Vũ Nghiêu Tá); con cháu cụ Vũ Trọng Phục; Vũ Quỷ tế (con thứ hai và con thứ ba cụ Vũ Như Mai); tụ họp thành tám phái của họ Vũ làng Mộ Trạch, mới phái có mộtnhà thờ trưởng và nhà thờ chi của phái. Có phái hình thành sau, chép ở phụ lụccủa phả Bát phái. Trong phả họ Vũ làng Mộ Trạch của Vũ Phương Lan viết năm 1769, không chép được vợ, con các cụ dòng thứ của đời thứ nhất đến đời thứ 3, chỉ nói gọn một câu: “Phàm là người họ Vũ làng Mộ Trạch, không thuộc vào 5 chi, đều là con cháu các vị thứ đó, tụ họp thành 8 phái”. Cho nên, ông tổ bắt đầu của mỗi phái chỉ ghi chung chung là một ông họ Vũ “Vũ Công”. Thế thứ của các phái khác với cách tính của các chi, không tính từ cụ Vũ Nạp là đời thứ nhất, mà lấy cụ bắt đầu lập ra phải là đời thứ nhất. Tám phái đó là:

1.     Phái thứ nhất: gọi là phái Giáp hay phái Tý, có cụ Vũ Quỳnh, đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất (1478), triều vua Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) truyền đến đời thứ 8, Vũ Nhân Bật không có con trai, coi như hết. Cụ Vũ Quỳnh có tên ở bia tại Văn Miếu, Hà Nội.

2.     Phái thứ hai: gọi là phái Ất, hay phái Sửu, có cụ Vũ Cán, đỗ hoàng giáp khoa Nhân Thân (1502), cụ Vũ trác Lạc đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656), Văn Miếu Hà Nội còn bia ghi tên hai cụ. Đến đời thứ 11, cụ Vũ Trác Oánh, đỗ cử nhân, cùng Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi lên chống Trịnh Giang, từ năm 1735 đến 1741, thì thất bại. Chúa Trịnh triệt hạ, đốt phá làng Mộ Trạch, con cháu cụ Vũ Trác Oánh di cư đi nơi khác không dám ở làng. Phái Ất không còn ai ở làng nữa. Có truyền thuyết, con cháu cụ Vũ Trác Oánh lánh đến làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định, đổi họ là Đặng Vũ. Năm 1991 có người về làng nhận họ.

3.     Phái thứ ba: gọi là phái Bính hay phái Dần, có cụ Vũ Tĩnh, đỗ Tiến sĩ, khoa Nhâm Tuất (1562). Triều vua Mạc Phúc Nguyên (1546 – 1562), con cháu không còn ai ở làng. Năm 1989 có các cụ Vũ Duy Diên và Vũ Duy Quỳnh, từ thôn Trường Yên, xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Sơn Bình, đem theo gia phả về nhận lại họ, mới biết người phái Bính di cư lên đấy, kể từ cụ Vũ Tĩnh, con cháu ở mấy thôn vùng ấy rất đông, lập ra chi phái Nhâm và Quý (1)

4.     Phái thứ tư gọi là phái Đinh hay phái Mão, có cụ Vũ Công Đạo đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1659), cụ Vũ Công Lượng, đỗ dòng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu Hà Nội có bia ghi tên 2 cụ, nhà thờ “Thế trạch đường” còn gọi là “Tràng Xuân Đường, có bia ghi dự tíh và thơ văn. Con cháu còn truyền nay là đời thứ 15, 16, 17.

5.     Phái thứ năm: gọi là phái Mậu hay phái Thìn, có cụ Vũ Đăng Long, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu Hà Nội có bia ghi tên cụ. Nhà thờ “Diên Khánh Đường” và “Di trạch đường”. Con cháu còn truyên đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17.

6.     Phái thứ sáu: còn gọi là phái Kỷ, phái Thìn có cụ Vũ Công Bình đỗ đồng tiến khoa Giáp Thìn (1664), cụ Vũ Huy Đĩnh, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754). Văn miếu Hà Nội còn bia ghi tên 2 cụ. Cụ Vũ Huy Đỉnh lại có tên trên bảng danh sách “tể tửu tử nghiệp” Quốc tử giám cùng với cụ Vũ Quỳnh là người phái Giáp. Nhà thờ “Tích thiện đường”, con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17 …

7.     Phái thứ bảy: còn gọi là phái Canh, phái Tỵ, có cụ Vũ Lân Chỉ, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17 …

8.     Phái thứ tám: còn gọi là phái Tân, phái Ngọ, có hữu mịch Vũ Nhật Quyện. Nhà thờ “Phúc Khánh Đường” con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17 …

Ngoài ra còn những phái mà tổ tiên trước đây, chép ở phụ lục phả của 1 trong tám phái có liên quan về thông gia, nay tách ra lập nhà thờ, chép phả như một phái riêng như: Lưu Khánh Đường, Từ Hiếu Đường.

PHẦN THỨ BA

NHỮNG CHI, PHÁI KHÔNG CÒN CON CHÁU Ở MỘ TRẠCH

(Chi thứ 1, chi thứ 4; phái Giáp, phái Ất, phái Bính)

 

A.    CHI THỨ NHẤT:

Đời thứ năm:  Vũ Tuỳ, con trưởng cụ Vũ Bá Khiêm, chăm học, do ấm quan, được bổ chức huyện Thuý Vân, nay thuộc tỉnh Thanh Hoá. Có tiếng là quan thanh lương, hiệu Thí Trai, sinh 4 con trai là Vũ Tháo, Vũ Đôn, Vũ Thận, Vũ Khởi.

Tô quận công có thơ: Hội bả thi thủ nhất phái trường, Tráng niên phệ sĩ vụ tuần lương. Ái dân trạc lệnh phù dân chính, Giáo tử Yên Sơn hữu nghĩa phương. Thuỳ dụ vô cùng quân tử trạch, Thiện hưu khả bối hậu nhân sương. Cổ già kiều một dư hướng tại. Thiên cổ nan ma truy viễn đường.

Đã khởi thi thư một phái trường,

Sớm thành kẻ sĩ dạ thuần hương.

Yêu dân nghiêm lệnh phù nhân chính.

Giây trẻ sách đèn sẵn nghĩa phương.

Tỏa đến vô cùng ơn đức chính.

Dốc lòng điều thiện để ngàn thương.

Hương thơm kiều một lưu truyền mãi.

Thiên cổ vững bền “Truy viễn đường”.

Đời thứ sáu:   Vũ Tháo, con trưởng cụ Vũ Tuỳ, đổ Hương tiến, thi hội nhiều lần, chỉ trúng đến tam trường. Trải làm chức tri huyện, tri phủ, rồi Hình Bộ Lang Trung. Làm quan 20 năm rồi về trí sĩ. Tên hiệu Đạm Trai, sinh Vũ Thiêm.

Tô quận công có thơ: Đường đường môn vọng phụ anh tài, Bách lý sơ do sĩ lộ khai. Chấp tải cư quan đa tích lịch. Vản niên đắc tạ phú quy lai. Dư hương thừa phức chi lan thế. Tựu thức tương tri tùng cúc bôi. Phú quý phong lưu chung nhược thuỷ. Ngô hưởng nhược hiểu kỹ nhân tài.

Dịch nghĩa:

Đường đường sắn nếp vốn anh tài.

Sĩ lộ từ đây, sơm triển khai.

Khoa hoạn nối đời, nhiều tích lịch.

Hiển vinh kế tiếp phú quý lai.

Dư hương sức níu, lan hoa thỏang.

Tươi tốt cùng vui, tiếng cúc bồi.

Phú quý phong lưu khởi tự dấy.

Lòng ta thật có, lăm anh tài.

Vũ Đôn, con thứ hai cụ Vũ Tuỳ. Lúc nhỏ theo học chú là Hoàng Giáp Vũ Hữu. Ham dọc sách, đeo tóc lên sà nhà, nhúng chân vào nước lạnh đêm đông để khỏi ngũ gật. Sớm đỗ Hương tiến, đến khoa thi hội năm Đinh Mùi (1487) trúng hoàng giáp đệ. Cụ tính cương trực, ít hợp với người, thích đọc sách, cầu hành tiến, làm quan chỉ đến chức chiêu căn quán tú huấn, dạy các ấn tử. Về trí sĩ, dạy học, học trò thành đạt rất đông. Tên hiệu Lan Trai thức công.

Tổ quận công có thơ: Tằng học châu ông dưỡng trí cường. Hung hoài sái lạc ngữ sung chung. Lan dai cận ấp phong lưu cực. Quế tịch sơ liên tính tự hương. Hành chỉ quán thiên vô hối hận. Khuất thân dư đạo nhiệm cao thường. Kinh trai nhốt lập nhân su hướng. Thả hỉ tư văn hựu chủ trương.

Dịch nghĩa:

Từng học ông thâu nối chí cường.

Tiêu dao tự tại, tiếng sung chuyên.

Thần hoa ấp ủ, phong lưu kế.

Quyền quế gắn liền, tự cổ hương.

Làm nghĩ lẽ trời, không hối hận.

Gửi thân cùng nhiệm với lạc truy.

Đứng trong nhà sách, người trông ngóng.

Vui với văn chương, có chủ trương.

Vũ thận, con thứ ba cụ Vũ Tùy, thông đạt việc lại, làm chức đồng tri phủ kinh môn. Sinh Vũ Diềm.

Tô quận công có thơ: Tảo tịnh gia đình phủ ấm miên. Hoạn chung tiện ngã tự di nhiên. Ưu du thi tửu cầm kỳ khách. Tiếu ngạo phong hoa tuyết nguyệt thiên. Tằng bả công danh thù túc trí. Cự sĩ truyền thạch dưỡng cao niên. Tây trai biệt dã phong lưu địa. Tha cảnh thê thê tiều mộ yên.

Dịch nghĩa:

Sớm theo phúc ấm, của tiền nhân.

Sĩ hoạn cũng là, đến tự nhiên.

Tiêu khiển rượu, thi cờ mấy ván.

Cười đùa hoa, tuyết, bạn cùng trăng.

Công danh như vậy, là ứng chí.

Suối nước non vui, tuổi vãn niên.

Nhà ở tây trào, nơi đất tốt.

Trời thu sương tỏa, ngắm tan dần.

Vũ Khởi, con thứ tư cụ Vũ Tuỳ. Am hiểu việc quan. Làm huyện thừa huyện Xiêu Bại, nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Có tiếng là quan hiền, sinh Vũ Dịch, Vũ Thức, Vũ Duyệt.

Tô Quận Công có thơ: Sĩ lộ ban ban kính dịch đa. Tàisứng cán sự lão ni già. Phương liên đậu thị ngũ chi quế. Xuân cái hà dương nhất huyện hoa. Khước tiển điền viên dai lạc chí. Cánh mưu trâm hốt cựu truyền gia. Tiêu nhân tỉnh thiện tòng lai viễn. Phúc đáo hào ly tín bất sai.

Dịch nghĩa:

Sĩ lộ đều đều, vốn đã qua,

Cán, sư, tài sứng lão sư gia.

So cùng họ Đậu, năm cánh quế,

Sánh với Hà Dương, một huyện hoa

Lúc nghĩ có vai, vườn ruộng thú.

Hốt trâm, siêm áo vốn riêng nhà.

Tiền nhân tích thiện, nên còn mãi.

Phúc đến rõ ràng chẳng phải ca.

Đời thứ bảy: Vũ Thiêm, con trưởng cụ Vũ Tháo, đổ nho sinh. Bà cụ Vũ Thị Tôn, cháu gái ngoại cụ Vũ Thế Hào, phái Ất, sinh Vũ Hi Nghiêm mất sớm, Vũ Kính Hiệp, gái Vũ Thị Du lấy chồng người họ Lê đời thứ 7.

Vũ Điềm, con cụ Vũ Thận, làm đồng tri phủ, phủ Thông Hoá, nay thuộc tỉnh Thái Nguyên, hiệu Phúc Trai Vũ Công.

Vũ Dịch, con trưởng cụ Vũ Khởi, làm huyện thừa huyện Thượg Phúc, nay thuộc Hà Nội, hiệu Lộng Hiên Vũ Công.

Tô quận công có thơ:

Quần tuấn giao du tạ huệ liên.

Phong vân hữu hội khánh di duyên.

Nhung hành phụng đỉnh ưu tòng sự.

Tề ấp minh cầm kỷ đô niên.

Nhu khố hữu dao phú chính tích.

Cơ cừu bất khí kế gia truyền.

Phong lưu hảo hảo thùy tương tư.

Thái bạch nhàn xưng tiểu lý tiên.

Dịch nghĩa:

Cùng với người tài, bạn tuấn liên.

Phong vân gặp hợi có di duyên.

Hành trang đến đỉch, làm công việc.

Vẽ ấp sáo, đàn đã kỷ niên.

Xiêm áo bao lần, nên chính tích,

Cơ cừuứăt hẳn sẵn gia truyền.

Phong lưu rất mực, đời như  thế.

Chén rượu so cùng Lý Bạch tiên.

Vũ Thức, con thứ hai cụ Vũ Khởi, đỗ Hương tiến, hiệu Cuồng Hiến tiên sinh, Vũ Hằng, Vũ Lục, Vũ Tông.

Vũ Duyệt, con thứ ba cụ Vũ Khởi.

Đời thứ tám:    Vũ Hi Nghiên, con trưởng cụ Vũ Thiêm, mất sớm, không có con.

Vũ  Kính Hiệp, con thứ vụ Vũ Thiêm, đỗ Hương tiến, trúng hội Tràng thứ ba, làm tri phủ Tràng Yên, nay thuộc Thanh Hóa, trí sĩ. Tên tự là Hoa Phủ, hiệu Di Trai tiên sinh, sinh Vũ Khôi, Vũ Huyên, Vũ Thị Loát lấy biên nghiệm Vũ Kim Bích; Vũ Thị Bạt lấy chồng đời thứ 5 phái Ất, Vũ Thị Điệt lấy ông giám sinh.

Vũ Hằng, con trưởng cụ Kính Hiệp, đổ Hương tiến, ấm tử làm nho sinh trúng thức, sinh Vũ Kháng

Vũ Huyến, con thứ cụ Kính Hiệp. Cụ có tướng lạ, trên trán có xương nổi lên như quân cờ, cao cờ có tiếng trong thiên hạ. Khi ấy có sứ nhà Minh sang nước ta tự phụ là cao cờ, ước cùng vua ta đánh cờ. Nhà vua thua liền ba ván, thì nước Tầu sẽ động binh. Vua mật tìm cụ giúp. Cụ bày kế mời sứ Tầu, đấu cờ giữa trưa nắng ở ngoài trời, mỗi bên chỉ có một thị lập cầm lộng che, không ai được gần. Cụ Huyến giả làm người hầu, cầm lộng che cho vua. Trên nóc lộng dù có một lỗ nhỏ, qua lỗ ấy mặt trời chiếu đốm nhỏ xuống bàn cờ. Cụ xoay lộng, đốm sánf di động, hướng dẫn nước cờ vua đi. Vua thắng 3 ván liền. Sứ Tầu rất phục, vua phong cụ là Kỳ Trạng nguyện, trạng cờ. Vua lại phong tước quan, cụ không nhận. Đời bấy giờ có câu: Hoàng mai tửu, Mộ Trạch Kỳ (Rượu Hoàng Mai, cờ Mộ Trạch). Sinh Vũ Hảnh.

Vũ Phẩm, con trưởng cụ Vũ Hằng, làm đề lại huyện Kim Động, sinh Vũ Trung, Vũ Địch, Vũ Tịch, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Hoành, con thứ cụ Vũ Hằng, làm ngoại chức ti xá nhân. Bà cụ là Vũ Thị Tân, con gái cụ Vũ Tiện, đời thứ 10, chi thứ 5, họ Vũ, sinh Vũ Hãng, Vũ Hiêu, Vũ Chiết, Vũ Khắc, Vũ Nhai, Vũ Thị Thạnh lấy Vũ Sư Đức, chi 5.

Vũ Chính Gián, con thứ ba cụ Vũ Hằng học giỏi, văn hay, đỗ Hương tiến, làm chức giảng dụ, mở trường dạy học, học trò rất đông. Những ông nghè thời ấy, phần nhiều là học trò cụ. Cụ là ông thầy khuôn phép trong một vùng, thọ 84 tuổi, tự là Khả Đại, hiệu Cực Hiên tiên sinh. Cụ bà là Vũ Thị lễ, người chi thứ hai.

Thọ Hình Bá có thơ: Thi tửu ưu du thảo trạch trung. Niên tôn đức thiệu ải thanh phong, khoa danh tự tục khuyết thiên số. Nho giáo kim do tưởng hữu công.

Dịch nghĩa:   Thơ rượu, nhàn chơi, nhất trong làng. Tuổi cao, đức trọng, hứng thanh phong. Khoa danh nối tiếp ở thiên số. Đời với đạo nho cũng là có công.

Đời thứ mười:    Vũ Kháng, con cụ Vũ Khôi, làm huyện thừa huyện Kim Động, hiệu Tốn Trai vũ công. Bà cụ Vũ Thị Dị sinh Vũ Để, Vũ Tính.

Thọ Lĩnh Bá có thơ: Đường thừa truy viễn thế trâm anh. Trị quận nhân vô tụng phúc đình, giả thị bình tâm thiên thọ cách. Phúc tinh bỉnh bỉnh đối quan tinh.

Dịch nghĩa:    Nối dòng trung viễn, thế trâm anh, ở quận dân không đều khiếu trính. Thọ cách trời ban lòng phơi phới. Phúc tinh phù hợp với quan tinh.

Vũ Hãnh, con cụ Vũ Huyền.

Vũ Trung, con cụ Vũ Phẩm, làm huyện thừa huyện An Dương, nay thuộc Hải Phòng, tước Nhuận Trạch Nam hiệu Mạt Đệ Vũ công, sinh Vũ Thị Nghiễm lấy Vũ Thạc đời thứ 6, phái Canh.

Vũ Địch, con thứ hai cụ Vũ Phẩm, làm đồng tri phủ Khoái Châu, tước Văn Duệ tử, hiệu Khiêm hiên công.

Vũ Tịch, con thứ ba cụ Vũ Phẩm, sinh Vũ Thị Lịch, Vũ Thị Tích.

Vũ Hãng, con trưởng cụ Vũ Hoành sinh Vũ Viên.

Vũ Hiệu, con thứ hai cụ Vũ Hoành, viết chữ đẹp, đỗ thư toán, làm huyện thừa huyện Phượng Nhỡn, nay thuộc tỉnh Bắc Giang, tước Nhân thọ nam, thọ 80 tuổi, hiệu Dật Hiên.

Thọ Lỉnh Bá có thơ: Lịch huyện phù ưng thức cách tư. Niên đa lã thượng bính kỳ lư. Hi du nhất thế tứ bi đếu, ca tụng danh lưu khẩu thắng bi.

Dịch nghĩa:   Làm quan nhiều huyện, ở thiên tư, tuổi cao luật giỏi rõ tài dư. Một đời ca tụng từ bi đúc, ngôn truyền hơn hẳn tấm bia ghi.

Vũ Chiết, con thứ ba cụ Vũ Hoành, đổ thư toán làm huyện thừa huyện Thanh Lan (Tân Hưng, Thái Bình), tước thọ lầu nam, thọ 80 tuổi, hiệu Hạo Hiên vũ công. Bà cụ Lê Thị Xuân, sinh Vũ Thị Dân, lấy Giám sinh Vũ Tuần, người phái Ất đời thứ 7, Vũ Thị Thuần lấy Tiến sĩ Vũ Cầu Hối, chi 5, đời 10; Vũ Thị Cân lấy hiến phó Vũ Minh Tá, người chi 3, đời 12.

Vũ Khái, con thứ tư cụ Vũ Hoành.

Vũ Nhai, con thứ năm cụ Vũ Hoành.

Đời thứ 11:   Vũ Để, con cụ Vũ Khảng, sinh Vũ Ông Sế.

Vũ Tính, con thứ hai cụ Vũ Khảng..

Vũ Viên, con cụ Vũ Hãng sinh Vũ Thị Đại.

Đời thứ 12:   Vũ Ông Sế, con cụ Vũ Để sinh Vũ Anh Sế.

Đời thứ 13:    Vũ Anh Sế, con cụ Vũ Ông Sế sinh Vũ Văn Thân, Vũ Thị Sế.

Đời thứ 14:    Vũ Văn Chân, con Vũ Anh Sế. Không có con.

B.    CHI THỨ TƯ:

Đời thứ năm:   Vũ Tráng, con thứ  tư cụ Vũ Bá Khiêm, khai tổ chi bốn. Đổ hương cống, làm quan hộ bộ lang trung, tước Thái bảo hiệu Mộng Trai, sinh Vũ Uyên, Vũ Cảo.

Đời  thứ sáu:   Vũ Uyên, con trưởng cụ Vũ Tráng, huyện thừa huyện Thiên Thi (sau là Ân Thi, rồi Kim Thi), hiệu Mặc Trai. Bà cụ họ Nguyễn thôn Mạc Xá, sinh Vũ Danh Mổ.

Vũ Cảo, con thứ cụ Vũ Tráng, đổ hướng cống làm tả mịch xứ Hưng Hóa (nay thuộc tỉnh Yên Bái), tặng tước Thái Bảo. Bà cụ Vũ Thị Điều, con cụ Vũ Thế Mãn, phái Ất, sinh Vũ Ỵêm, Vũ Hoành.

Đời thứ bảy:    Vũ Danh Mổ, con cụ Vũ Uyên, làm đô lại viện hàn lâm, sinh Vũ Bông, Vũ Phi Sảng, Vũ Ông Tông.

Vũ Yên, con trưởng cụ Vũ Cảo, đỗ hương cống , làm thừa tuyên sứ đạo Thanh Hóa, tước Lương Xuyên Bá, hiệu Mịch Hiên, sinh Vũ Thị Khán.

Vũ Hoành, con thứ cụ Vũ Cảo, đỗ hương cống. làm thiếu doãn phủ Phụng Thiên (nay là Hà Nội) hiệu Mỗ Hiên. Cụ bà Lê Thị Vỉ.

Đời thứ tám:    Vũ Ông Bông, con trưởng cụ Vũ Danh Mỗ sinh Vũ Anh Bông.

Vũ Phi Sảng, con thứ cụ Vũ Danh Mỗ, làm lại hiến ti, tỉnh Tuyên Quang, sinh Vũ Thị Địch, Vũ Thị Điển, Vũ Thị Nghiễm lấy Vũ Loát, phái Canh, Vũ Thị Mô.

Vũ Ông Tòng, con thứ ba cụ Vũ Danh Mỗ, sinh Vũ Thị Tòng, Vũ Thị Bách lấy Vũ Văn Hội chi 5.

Đời thứ chín:    Vũ Anh Bông, con cụ Vũ Ông Bông, sinh Vũ Văn Thịnh.

Vũ Phỉ Địch, con cụ Vũ Phỉ Sảng, đổ sinh đồ.

Vũ Kim Bích, con cụ Vũ Danh Mô, làm biện nghiêm, lấy Vũ Thị Loát, con gái Vũ Kính Hiên, chi 1, sinh Vũ Nhân Thiếp.

Vũ Đăng Hiền, con thứ cụ Vũ Danh Mô, làm lang y, bà cụ là con gái Vũ Lệnh Nghi, chi 5 sinh Vũ Thị Liệm.

Vũ văn Lương, con thứ ba cụ Vũ Danh Mô, sinh Thị Mổ lấy Vũ Đôn phái Bính, Vũ Văn Tỉnh, Vũ Văn Danh, Vũ Văn Tài.

Phụ Lục – Vũ Danh Mô là con rễ cụ Vũ Yêm sinh Vũ Kim Bích, Vũ Đăng Hiền, Vũ Văn Lương.

Đời thứ mười:   Vũ Văn Thịnh, con cụ Vũ Anh Bông sinh Vũ Văn Cư, Vũ Văn Chư.

Vũ Nhân Thiếp, con cụ Vũ Kim Bích sinh Vũ Nhân Ban, Vũ Thị Biền, Vũ Thị Phát, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Văn Tỉnh, con cụ Vũ Văn Lương sinh Vũ Đình.

Vũ Văn Danh, Vũ Văn Tài, đều là con cụ Vũ Văn Lương.

Đời thứ 11:    Vũ Văn Cư, con trưởng cụ Vũ Văn Thịnh.

Vũ Văn Chư, con thứ cụ Vũ Văn Thịnh, sinh Vũ Văn Chấn.

Vũ Văn Ban, con cụ Vũ Văn Thiếp.

Vũ Đỉnh, con cụ Vũ Văn Tỉnh.

Đời thứ 12:   Vũ Đình Chấn, con cụ Vũ Văn Chú, làm sở sự sứ Đường Xuân, hiệu Minh Chấn, sinh Vũ Đình Bá.

Đời thứ 13:   Vũ Đình Bá, con cụ Vũ Đình Chấn sinh Vũ Đình Duyên, Vũ Đình Vĩnh.

Đời thứ 14:    Vũ Đình Duyên, con trưởng Vũ Đình Bá, đổ sinh đồ, làm xã trưởng hiệu Tịnh Thanh. Bà cụ người xã Vạn Đồn, huyện Thuỵ Anh, sinh Vũ Đình Thuyên, Vũ Đình Chì, Vũ Thị Định, Vũ Đình Đống.

Vũ Đình Vĩnh, con cụ Vũ Đình Bá, đỗ hương cống.

Đời thứ 15:     Vũ Đình Thuyên, Vũ Đình Chì, Vũ Đình Đống, con cụ Vũ Đình Duyên di cư về quê ở xã Vạn Đồn, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình.

 

 

C.   PHÁI GIÁP:

Đời thứ nhất:    Vũ Công, phái Giáp bắt đầu từ cụ Vũ Công, hiệu Chân Nhân, phả hệ từ thôn Tây (tức Nhuận Trạch ngày nay) về Mộ Trạch vào Giáp Bình Chính, sinh một con là Vũ Quỳnh, hưởng tử ấm, phong tặng chức tham chính (thơ số 1, trang 443).

Đời thứ hai:      Vũ Quỳnh, là con cụ Chân Nhân, sinh năm Quý Dậu (1453) là người hiếu hữu, học rộng, năm 26 tuổi, triều Hồng Đức, khoa Mậu Tuất (1478), đỗ Tiến sĩ hoàng giáp đệ, nhận nhiều chức quan ở trong triều, ngoại trấn, làm thầy dạy vua Lê Thế Tôn, lại kiêm sử quán đô, tổng tài, soạn sách “Đại Việt thông giám thông khảo” chép từ Hồng Bàng đến Thập Nhị sư quân gọi là “ngoại kỳ”; Đinh Tiên Hoàng đến Lê Thái Tổ, bình được thiên hạ, gọi là ‘bản kỷ”, gồm 26 quyển, lại viết sách “Lĩnh nam trích quái”, chức quan binh bộ Thượng thư, nhập phi Kinh Diên. Lúc ấy có giặc đến và bị hại. Tên tư là Thủ Giác, hiệu là Đốc Trai. Cụ Bà là Lê Thị Mỗ, hiệu Thục Đức, là con gái trưởng cụ Lê Bá Tu, người đới thứ 6, họ Lê lăng Mộ Trạch. Sinh con trai 2 người là Vũ Bằng Tường và Vũ Tức Hiên. Con gái có Vũ Thị Quýnh lấy trạng nguyên Lê Nại, con gái thứ là Vũ Thị Phùng, Vũ Thị Phấu, Vũ Thị Bình (thơ số 2, trang 444).

Đời thứ ba:     Vũ Bằng Tường, con trưởng cụ Vũ Quỳnh, cụ đỗ Hương tiến sĩ trúng hội tràng, làm chức hộ bộ tú vụ, hiệu Giám Sát, sinh 2 con, trưởng là Vũ Bằng Đoàn, thứ là Vũ Bằng Dực (thơ số 4, trang 445).

Vũ Tức Hiên, con thứ cụ Vũ Quỳnh, lúc bé dỉnh ngộ, chăm học sách, (không ghi có vợ con hay không?) (thơ số 5, trang 445)

Đời thứ tư:    Vũ Bằng Đoàn, con trưởng cụ Vũ Bằng Tường, làm chức Hà đê sứ, (thơ số 7, trang 446)

Vũ Bằng Dực, con thứ cụ Vũ Bằng Tường, (thơ số 8, trang 446), hương ấm quan viên tôn, làm xã trưởng, sinh ba con Vũ Tri Viễn, Vũ Đình Mổ, Vũ Thời Ưng.

Đời thứ năm:    Vũ Tri Viễn, con cả cụ Vũ Bằng Dực, đỗ Hương tiến, làm Giám sinh

Vũ Mỗ, con thứ cụ Vũ Bằng Dực sinh Vũ Nhân Chiêm.

Vũ Thời Ưng, con thứ ba cụ Vũ Bằng Dực, lấy Vũ Thị Lang, chi thứ 4, sinh 2 con gái Vũ Thị Diễn, Vũ Thị Phán.

Đời thứ sáu:      Vũ Nhân Chiêm, con cụ Vũ Nhân Mỗ, đỗ Hương tiến làm giám sinh, sinh một con là Vũ Nhân Đài.

Đời thứ bảy:     Vũ Nhân Đài, con cụ Vũ Nhân Chiêm, sinh Vũ Nhân Bả.

Đời thứ tám:     Vũ Nhân Bả, con cụ Vũ Nhân Đài, vô hậu.

(Đã so với bảng chữ Hán, chỉ còn thiếu bài văn tế cụ Vũ Quỳnh. Nhưng bài thơ vịnh từng người của Tô Quận Công bộ chính kèm theo trang cuối. Bài văn tế cụ Vũ Quang là Trạng nguyên Lê Nại).

D.   PHÁI ẤT 

Đời thứ nhất:        Vũ Công, phái Ất bắt đầu từ Vũ Công, nhà ở Ngõ Nam, thuộc Xuân Chính, cụ lấy Thị Mỗ, sinh 3 trai, 1 gái. Vũ Nhân Trung, Vũ Thế Mãn, Vũ Thị Gái. Vũ Thị Quý, lấy Vũ Công Chân, đời thứ  nhất của phái Bính (xem phả ngoại tổ thì: Vũ Lao, sinh Thị Việt, thị Việt sinh Thị Hiện, Thị Hiện sinh Vũ Ân; Vũ Ân sinh Vũ Chinh, lấy Vũ Thị Phụng sinh Nguyễn Vi; Nguyễn Vi sinh Thị Mỗ.

Đời thứ hai:          Vũ Nhân Trung, con trưởng Vũ Công, cụ học sâu, biết rộng, năm Thuận, đỗ cử nhân, lại trúng hội tràng, làm quan nhiều chức, lúc làm An Bang Đạo, hình hiến sát sứ đi hiến sát sứ, có đêm mộng thấy Phật Bà thờ ở đảo, muốn về làng Mộ Trạch, cụ rước về, thờ ở chùa Diên Phúc. Khoảng năm Ất Mùi thời Hồng Đức (1475), cụ xin triều đình cho phép khai trạch cừ, từ Đổng Đán đến Hà Xá, sang sông Kênh để lấy nước làm ruộng. Đến năm Kỷ Mão, niên hiệu Quang Thiệu thứ 4 (1519) thôn có ly quốc công Nguyễn Thế, cùng cháu điệt là lễ bộ thượng thư lễ độ bá Vũ Cán, xin đình lấy người hàng huyện, khai trí Đống đáu đến Cầu sen làng Hoạch Trạch làm thông với Hồng Giang, cái lại càng lớn. Cụ dựng bia đúc chuông ở chùa Diên Phú. Sinh thời cụ ở làng, lại xứ Chu huyện gọi là Đông Hiên. cụ sinh 1 trai là Vũ Quang Lộc

Vũ Thế Mãn, con thứ cụ Vũ Công, có tài học, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng làm huần đạo phủ Đà Giang, nhà ở xứ Đồng cha, ngã nam. Hết lòng dạy con, do tử ấm được phong tặng Thái bảo, hiệu Tốn Trai, sinh một con là Vũ Cán.

Vũ Thế Hảo, con thứ ba cụ Vũ Công, tính khảng khái cương trực, tài văn vũ, làm chức đô tổng binh sứ ti tổng binh đạo Thuận Hoá, có quân chiêm thành xâm lược, cụ xuất quân chống cự và mất, sinh 3 con gái Vũ Thị Hà, Vũ Thị Điều, Vũ Thị Nhận.

Đời thứ ba:   Vũ Thế Lộc, con cụ Vũ Thế Mãn, sinh Vũ Mổ.

Vũ Cán, con cụ Vũ Thế Mãn, cụ sinh năm Ất Mùi (1475), từ bé chăm học, đọc thông các sách, đỗ Hương tiến, năm 28 tuổi, niên hiệu Cánh Thống, năm Nhâm Tuất (1502) mở khoa thi, nhà vua ra đề thi hỏi về đạo Phật, cụ đỗ hàng Giáp thứ 2. Văn chương đức hạnh được đời suy tôn, nhà nghèo, cụ làm thơ vui với cái nghèo, năm Giáp Thân, niên hiệu Thống Nguyên (1524) để tang mẹ, cụ dựng mấy gian nhà, làm nhà thờ tên là “Tư Vĩnh Đường”. Cụ hay ngâm vịnh để lại hơn ngàn bài thơ, thường sướng họa thơ với trạng trình, trong “Bạch vân thi tập” có nhiều bài thơ của cụ. Ở làng cụ có 8 bài thơ vịnh 8 cảnh đẹp của làng Mộ Trạch và tập “Tứ lục bị hãm”. Làm quan đến lễ bộ thượng thư, nhập thi kinh diện, lễ độ bá, tặng tên thuỵ Cung Lượng, hiệu tùng hiên. Cụ bà hiệu Tà Thuận, phong tự phu nhân. Năm Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức (1519) cụ bà mất, cụ ông làm bài văn tế rất hay. Cụ có một con là Vũ Cảnh.

Đời thứ tư:    Vũ Quang Mổ, con cụ Vũ Quang Lộc sinh Vũ Quang Trị.

Vũ Cảnh, con cụ Vũ Cán, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng, làm hộ bộ lang trung, tặng Thái Bảo, hiệu Thân Trai, sinh 2 con Vũ Kỵ, Vũ Doãn.

Đời thứ năm    Vũ Trị, con cụ Vũ Mổ, tinh thông y học, làm Nghệ An thái bộc tự thiếu khanh, năm 70 tuổi về trí sĩ.

Vũ Kỵ, con cả Vũ Cảnh, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng, làm lễ bộ lang trung, hiệu Thành Trai, bà cụ họ Lê, tên Đoan, sinh 3 con gái và con trai là Vũ Bá Đạt.

Vũ Doãn, con thứ hai cụ Vũ Cảnh, đỗ Hương tiến, sinh Vũ Văn Hưng,

Đời thứ sáu:    Vũ Tảo, con cụ Vũ Trị, cụ tinh thông y học, làm quan đến phụ quốc thượng tướng, tước Lương Trạch Bá, hiệu Thảo hiêu. Cụ bà Vũ Thị Hành, con cụ Vũ Huyên, đời thứ 9, chi thứ nhất, sinh 2 con Vũ Uyên và Vũ Diễn.

Vũ Bá Đạt không có con.

Vũ Văn Hưng, con cụ Vũ Doãn lấy Lê Thị Vĩnh, con cụ Lê Nghiệp là người đời thứ chín họ Lê, sinh Vũ Văn Tích, Vũ Văn Trình và gái Vũ Thị

Đời thứ 7:     Vũ Uyên, con trưởng cụ Vụ Tảo, cụ làm Đại sứ, sinh một con là Tuấn, trong làng truyền rằng, cụ nhà giàu, tuổi cao mới sinh con trai, giao cho người ở Thổ Hoàng nuôi, bị lạc, lấy một người họ Hoàng ở thôn ấy thế vào, tức là Tuấn vậy. Nhưng lấy họ Vũ, về sau, con gái người con thứ hai cụ Tảo là Thị Minh kiện lên quan, xét cho Thị Minh được giữa phần hương hỏa, cho nên đất thuộc về Thị Minh, truyền đến ngày nay con cháu người con thứ họ Vũ là Duy Thời.

Vũ Diễn, con thứ hai cụ Vũ tão, ấm quan viên tử, lấy Lê Thị Điền sinh một con gái Vũ Thị Minh lấy Hoàng Giáp Vũ Bạt Tuỵ người chi 5.

Vũ Văn Tích, con cả Vũ Hưng, làm huyện thừa huyện Bảo Lộc hiệu Thoát Hiên. (thơ 4, trang 448)

Vũ Văn Trình, con thứ hai cụ Vũ Hưng, còn tên là Đồ Hàng, nhà nghèo chỉ trong vào nghề dạy học, trong xã nhiều người học, láng giềng có người tên là Sai Toản cùng nhiều người đến học, đều hứa là sẽ đỗ Tiến sĩ, trong làng đều gọi đấy là lũ Tiến sĩ. Sai Toản cũng hứa như vậy. Về sau nhiều người đỗ đại khoa. Thật sự ta biết công dạy bảo của cụ, ghi cụ vào từ điển. Đến nay vẫn để khói hương. cụ sinh một con gái là Thị Hoàng.

Đời thứ 8:   Vũ Tuần, con cụ Vũ Uyên, cụ đỗ Hương tiến, trúng ngự đề lấy Vũ Thị Cầu là con gái cụ huyện thừa thuộc chi thứ 1. Sinh 4 gái, 1 trai là Vũ Trác Lạc, trưởng nữ Vũ Thị Mỗ, thứ nữ Vũ Thị Hiến.

Đời thứ 9:   Vũ Trác Lạc, con cụ Vũ Tuấn, cụ sinh năm Ất Hợi (1635), sớm đỗ Hương tiến, năm Bính Thân (1656), 22 tuổi đỗ Tiến sĩ, khoa ấy cả nước lấy đỗ 6 người làng Mộ Trạch đỗ 3, làm quan Nghệ An xứ Thừa Ty tham chính hiệu Hòa Tuý, bà cụ Thị Cẩm, người chi thứ 3 sinh 4 gái, con trai Vũ Trác Kỷ, Vũ Trác Việt.

Đời thứ 10:   Vũ Trác Kỷ, con trưởng cụ Vũ Trác Lạc, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng, làm quan huấn đạo Đông Quan, rồi tri huyện Cỏm Hòa, hiệu Nam Hiên, lấy Vũ Thị Trị, hiệu Từ Khiết phu nhân, sinh 1 trai là Vũ Trác Lập và 2 gái là Vũ thị Sa và Vũ Thị Phương.

Vũ Trác Việt, con thứ hai cụ Vũ Trác Lạc, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng làm huấn đạo huyện Thiệu Thiên, lại thi hội, trúng tam trường, thi ngử đề trúng thứ nhất, thứ hai là Vũ Đăng Hiển, sau làm tri huyện Kim Thành, nhân dân yêu mến, mất năm 72 tuổi. Lấy Vũ Thị Đôn sinh Vũ Trác Thiền; lấy Thị Mỗ sinh Vũ Trác nhiên, Vũ Trác Oanh.

Đời thứ 11:    Vũ Trác Lập, con trưởng cụ Vũ Trác Kỷ, làm nho sinh.

Vũ Trác Thiền, con cụ Vũ Trai Việt đỗ Hương tiến năm Kỹ Mão (1699), trúng thứ 2, lấy Vũ Thị Chiêm sinh Vũ Trác Thấm.

Vũ Trác Nhiên, di cư đi Kim Thành không biết ở xứ nào.

Đời thứ 12:   Vũ Trác Thấm, con cụ Vũ Trác Thiền, sinh 3 con trai Vũ Văn Thời, Vũ Văn Điếu, Vũ Văn Đản.

Đời thứ 13:   Vũ Văn Thời, con trưởng Vũ Trác Tấm sinh Vũ Trác Siêu, Vũ Trác Quần, Vũ Trác Quan.

Đời thứ 14:   Vũ Trác Siêu, không có con

Vũ Trác Quần, Vũ Trác Quan ở đâu không rõ.

Phả họ Đặng Vũ, ở Tranh Thiên, nói là phát tích từ con cháu cụ Vũ Trác Oánh lên ở đây.

E.    PHÁI BÍNH:

Đời thứ 1:    Vũ Công, phải bắt đầu viết từ cụ tên Mỗ, tặng Thái Bảo, nhân dộ bà, hiệu Chân Thiện, hường ẩm, giáp Bính chính, lấy Vũ Thị Quy, con gái người thuộc đời thứ 2, phái Kỷ, sinh 4 trai, 3 gái, con trai trưởng Mỗ, thứ Mỗ, Thứ ba Mỗ, út là Vũ Bô.

Đời thứ 2:    Vũ Bô, con Vũ Công, sinh năm Mậu Tuất (1478), tính tình ôn hòa, chăm học, học hai cụ Vũ Nhân Trung, và Vũ Thế Hảo, niên hiệu Thống Nguyên (1522), đỗ Hương tiến, trúng hội tràng, làm huấn đạo phủ Tân Hưng, thăng Lể kính học chính, rồi tri phủ Đà Dương, Nam Sách, lại thăng Lể kính giáo hiệu, nhiều người theo học, thầy học Thế Tôn, học trò thành đạt nhiều, ở làng ta có Lê Quang Bí, Nhữ Mậu Tô, mất năm Đinh Mùi (1547), thọ 70 tuổi. Cụ bà sinh 1 trai Vũ Tĩnh, hưởng tử ấm, tặng Thái Bảo thừa tuyên sứ, Lễ huấn bá hiệu Tự Hiên (thơ số 18, trang 449)

Đời thứ 3:     Vũ Tĩnh, con cụ Vũ Bô, sinh năm Ất Dậu (1525), lúc bé chăm học, năm 19 tuổi được vào học ở tú lâm cục nho sinh, khoa Ất Mão năm 1555, niên hiệu Quang Bảo, đỗ Hương tiến, khoa Nhâm Tuất (1562) đỗ Tiến sĩ, dưới triều Mạc, làm các chức: Giám sát đề hình cấp sự, tham chính thị lang, rồi tu cống bộ phó sứ, sang cống nhà Minh, về thăng binh bộ hộ bộ tả thị lang, phó đô ngự sử, lại bộ tả thị lang, tước Tây khư hầu, thọ 63 tuổi, mất năm Đinh Hợi 1587, tặng Binh bộ thượng thư, thuỵ Nhã Đạt, hiệu Hựu Trai. Cụ bà Lê Thị Liệu, hiệu Trinh Thạc, sinh 2 con Vũ Đức Tú, Vũ Đinh Tọa (thơ 19, trang 450)

Vũ Đường, (phụ lục), khoa Ất Sửu (1565) trúng Tiến sĩ làm quan đến hộ bộ hữu thị lang, hiệu Tiết Trai.

Đời thứ 4:      Vũ Đức Tú, con trưởng cụ Vũ Tĩnh, hưởng ấm triều liệt đại phu, hiệu Thanh Thiên, lấy Vũ Thị Bà, hiệu Từ Ý sinh Trai Vũ Nhân Bồi, Vũ Đức Dương, Vũ Đức Tuy, gái Vũ Thị Năng, Vũ Thị Cao.

Vũ Đính Tọa, con thứ cụ Vũ Tĩnh, trúng Hương tiến, lấy Bà Vũ Thị Nương, lại lấy bà Vũ Thị Ngọc, sinh 1 con Vũ Độn.

Đời thứ 5:     Vũ Nhân Bồi, con cụ Vũ Đức Tứ, hưởng quan viên tôn, trúng hương tuyển, làm nho sinh hiệu Thận Trai, cụ bà hiệu Lệ Tiết sinh 1 con là Vũ Nhân Cơ.

Vũ Đức Dương, con thứ cụ Vũ Đức Tú làm đề lại.

Vũ Đức Tuy, con thứ ba cụ Vũ Đức Tú.

Vũ Độn, con cụ Vũ Đinh Tọa sinh Vũ văn lãm.

Đời thứ 6:     Vũ Nhân Cơ, con cụ Vũ Nhân Bồi, phụng thị ở Đông Tào, hiệu Khánh Trai, bà là Vũ thị Mỗ sinh con trai Vũ Duy Viên, Vũ Duy Thuần, 3 gái Vũ Thị Xuân, Thị Hoa, Thị Mỗ.

Vũ Văn lãm, con cụ Vũ Độn.

Đời thứ 7:   Vũ Duy Viên, con cụ Vũ Nhân Cơ, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng dạy học nơi vương phủ, rồi tri huyện hiệu Tiên phong, thăng lể bộ viên ngoại lang, hiệu Chỉ Trai, bà hiệu Từ Chất, sinh Vũ Duy Nại, lấy bà thư sinh Vũ Duy Thản (thơ 20, 450)

Vũ Duy Thuần, con thứ cụ Vũ Nhân Cơ, đỗ Hương tiến trúng hội tràng, tự Châu Hữu Lâm, sinh một trai Vũ Duy Chiêu (thơ 21, trang 450)

Đời thứ 8:    Vũ Duy Nại, làm nho sinh.

Vũ Duy Thản, con cụ Vũ Duy Viên, ấm quan viên tử, học quan tham nghị xứ Kinh Bắc, giỏi toán pháp, phụng thị nơi vương phủ, thi trúng khoa toán, chức điện tiền đồng, phủ thị thừa, năm 47 tuổi mới thi hương, trúng đến trường 3, vào hội tư văn, sau thăng Hùng hoá xứ Thừa bi tham chính, tước thản trạch tử, có nhà đất ở phường Phúc Cổ, lấy Vũ Thị Con sinh 1 gái, lại lấy thiếp sinh trai Vũ Duy Tăng, lại lấy thiếp sinh Vũ Duy Hổ.

Vũ Duy Thiểu, là nhiêu nam.

Đời thứ 9:    Vũ Duy Tăng, con cụ Vũ Duy Thản, đổ Hương tiến, làm nho sinh, lấy Nguyễn thị Mỗ sinh 3 gái và 2 trai Vũ Duy Dản, Vũ Duy Khởi.Đời thứ 10:      Vũ Duy Đản, con cả Vũ Duy Tăng, không rỏ đi đâu.

Vũ Duy Khởi, con tứh Vũ Duy Tăng, không rỏ đi đâu.


PHẦN THỨ BỐN

NHỮNG CHI PHÁI HỌ VŨ MỘ TRẠCH MÀ CON CHÁU CÒN Ở LÀNG

1-     CHI THỨ HAI; 2- CHI THỨ BA; 3- CHI THỨ NĂM …

4- PHÁI ĐINH; 5- PHÁI MẬU; 6- PHÁI KỶ; 7- PHÁI CANH

8- PHÁI TÂN; 9- PHÁI MỚI LƯU KHÁNH ĐƯỜNG V.V…

 

1.     CHI THỨ HAI:

Đời thứ 5:   Vũ Tấn, con thứ hai cụ Vũ Bá Khiêm, cụ học rộng, nghe nhiều, nói điều thiện, làm việc thiện, tinh y học, cứu sống được nhiều người. Người đời ấy cho là đức sứ. Làm Chánh tổng, hiệu là Thủ Mặc cư sĩ. Ông là khởi tổ nhà thơ “Đức nghiệp đường” sau đổi là “Đôn hiếu đường”. Sinh 2 trai là Vũ Hổ, Vũ Hữu, mộ ở Mã Miếu, trước ngôi mộ hình chữ phẩm nơi nhũ đầu.

Tô quận công có thơ: Thiện ngôn, thiện hành cấu thao tồn, hâm tiện nhân nhân vô giản ngôn. Tằng bả gia thanh liên bá trọng. Hưu tương y học giáo như tôn. Như thần công hiệu xưng tam thế. Bất huyệt y quan tuỵ nhất môn. Nhược luận hoạt nhân hà sở bản, hưu hưu phương thốn thị căn nguyên (trang 2)

Dịch nghĩa:    

Đời thứ 6:  Vũ Hổ, con trưởng cụ Vũ Tấn, làm huyện thừa huyện Phú Lương, (nay thuộc Thái Nguyên), hiệu chí trai Vũ Công, sinh Vũ Lương Hữu, Vũ Đình Phố.

Tô Quận Công có thơ: Tảo cù học nghiệp phủ chi hành. Phệ sĩ hi duyên thái vận đinh. Tòng chính hảo quan tân cẩm chế. Truyền gia bất cải cựu đàng thanh. Bàn đào xuân sắc tiên thành ấp. Đậu quế dư hương mãn hộ đình. Tả tục kỳ hưng chi hữu bản. Tiên nhân tích đức ngụ minh minh.

Dịch nghĩa:                   Sớm chăm luyện học, gắn liền hành.

Quan chức duyên may, gặp vận hanh.

Chính tốt lại thêm đức chí tốt.

Gia thanh nếp cả lại càng thanh.

Sắc xuân tô điểm cho làng ấp.

Đậu, quế dư hương, mạn hộ đình.

Hỏi gốc ở đâu? Mà được thế.

Người xưa tính đức, rõ ràng minh.

Vũ Hữu, là con thứ cụ Vũ Tấn Phụng, thi ở vương phủ hơn 20 năm, thụ hcức huyện thừa huyện Chi Phong. Trí sĩ, thọ 79 tuổi, hiệu Phúc Trai, sinh Vũ Tú.

Tô Quận công có thơ: Sử sự Lê Thần chấp tải tiên, xuân hồi kiều một hỉ oanh thiên. Tuần hương vụ yếu nhân vi chính. Sĩ chí đô tuỳ mệnh tại thiên. Hán sử tuyền trung phù mệnh dự. Lạc anh hội thượng tuỷ cao niên. Cổ kim vi thiện cầu đa phúc. Tiên hóa lòng chi phúc quả viên.

Dịch nghĩa: Việc công nhận nhiệm mấy mươi năm. Kiếu một trên cành oanh đón xuân. Làm thiện cất theo đường chính nghĩa. Mệnh trời kẻ sỉ một lòng tuân. Truyền trung Hán sử, phù du đủ. Hội thượng lạc anh bậc lão niên. Hành thiện xưa nay cầu được phúc. Thành tiên mới biết, phúc tròn viên.

Đời thứ bảy:  Vũ Dương Hưu, con trưởng cụ Vũ Hổ, đổ Hương tiến, thi hội liền trúng tam trường, làm tham nghị xứ Thanh Hoá, tước chân xuất tử, làm quan mà thanh bạch, nhà ở một gian, ruộng một mẫu, khéo làm thơ, cùng với Vũ Cán hiệu Tùng Hiên, người làng, và cụ Trạng Trình, Nguyễn Bỉnh Khiêm, người làng Cổ Am, huyện Vỉnh Bảo họa thơ chơi thân với nhau. Những bài sướng họa của cụ thẩy nhiều trong tập thơ “Bạch vân” và “Tùng hiên”. Cụ sinh Vũ Dương Hổ.

Tô quận công có thơ: Lạc kim chi cổ nhiệm di di. Sĩ chỉ do tiết ngộ tuỳ. Lôi khả hưng hoài vô điểm luỵ. Tiếu đàm phong tiện thanh thi. Thiên trúng hồ hải nhàn du nhất. Bán mẫu điền viên dưỡng lão thời. Tự hữu nhất gia tôn tử phúc, Sinh tiền để sự độc hưng bi.

Dịch nghĩa:        Vui nay biết trước, thật là vui

Đường sĩ đều do biết ngộ tuỳ.

Lôi khả hưng hoài, không điểm tuỵ.

Truyện trò giăng gió công thành thi.

Hải hồ thao trung, khi đương chức.

Mữa mẫu điền viên lúc lão thời.

Đã có một nhà con cháu phúc.

Sinh tiền xá kể nổi hưng bi.

Vũ Đình Phố, con thứ cụ Vũ Hổ, xuất thân vũ biền, làm chức Vũ uý vệ không hải, hiệu Thanh, sinh trai Vũ Tuân Nghệ, Vũ Công Huynh và gái Vũ Thị Đạm. Bà Đạm sinh 3 gái. Thị Giáp sinh Thị Đội; Thị Đội sinh Thị Bang. Thị Ất sinh trai Văn Sùng, gái Thị Lê. Văn Sùng sinh Duy là xã trưởng. Thị Lễ gã Vũ Chính Gián. Thị Binh sinh Doãn Chấp.

Tô quận công có thơ:  Tráng niên đầu bách lạc tòng quân. Sở hưởng chính yên chiếm chiến trần. Nghĩ bả công danh thư thiết khoán. Cảnh tượng biện vũ trạc chu hàm. Nhất môn bá trọng liên phương nậht. Vạn lý giang hồ phiếm khả xuân. Mạc hoạn sỉ đồ tài thắng đặng. Tiên trình thiểu khuất, hậu đa thân.

Dịch nghĩa:        Tuổi xuân ném bát đi tòng quân.

Vui với chinh yên ở chiến trường.

Tạo lấy công danh bằng khoán thép.

Võ tài trấn lấy chức quan hàm.

Chung vui huynh đệ đều thơm tiếng.

Trăm dặm ruổi dong thấy sắc xuân.

Không ngại sĩ đồ nhiên khúc khuỷu

Tiến trình ít khuất hiện cùng thân.

Vũ Tư, con út cụ Vũ Hổ, quan viên tử hiệu Đạm Liên. Bà cụ là Lê Thị Tôn, con gái Hoàng giáp Lê Tú, sinh Vũ Lại.

Đời thứ tám: Vũ Dương Mỗ, con cụ Vũ Dương Hưu, sinh Vũ Tiến Trung, Vũ Tiến Lương, Vũ Tiến Tài, Vũ Thị Mổ.

Vũ Tuấn Nghệ, con cụ Vũ Đình Phố, sinh Vũ Văn Tỉnh, Vũ Văn Trương, Vũ Thị Thược.

Vũ Ông Huynh, con thứ cụ Vũ Đình Phố, sinh Vũ Thị An. Vũ Thị An sinh Vũ Thị Huynh, Thị Lai.

Vũ Lai, con cụ Vũ Tư, làm đô lại thừa tô xứ Sơn Nam, hiệu Muội Hiên. Bà cụ hiệu Từ Thận sinh Vũ Tế, Vũ Tảo, Vũ Duyên, Vũ Thị Uẩn lấy Vũ Tỉ, chi 3, đời thứ 9, Vũ Thị Lang lấy Vũ Đình Kiên người phái Bính, đời thứ 4.

Đời thứ chín:   Vũ Tiến Trung, con cả cụ Vũ Tiến Mỗ lấy bà Vũ Thị lại, con gái thứ bà Nga, chi 3, sinh Vũ Thị Chanh, Vũ Phú Đại, Vũ Đã.

Vũ Tiến Lương, con thứ cụ Vũ Dương Mỗ, sinh 2 gái Thị Bài, Thị Mai.

Vũ Tiến Tài, con út cụ Vũ Dương Mỗ, sinh một gái Thị Phi.

Vũ Văn Tỉnh, con trưởng cụ Vũ Tuấn Nghệ, lấy Vũ Thị Nhược, người chi 5, cháu ngoại cụ sư Trình, sinh 1 gái, Thị Duệ.

Phụ lục:       Thị Duệ sinh Thị Thu, Thị Lương. Thị Thu sinh Thường Tồn, Thường Mổ. Thường có tài viết chữ. Đời Vĩnh Thọ (1657 – 1662) thi viết chữ đẹp, trúng loại ưu, được đi theo đoàn đi sứ Trung Quốc, đi sứ  về làm huyện thừa huyện Lập Thạch tước Diệu Loãng Nam, những chữ  viết trên đại tự năm chỉ và bản mục lục ở đình làng là chữ của cụ. Cụ bà người chi thứ 3, hiệu Thuận Nhan, không có con, lại lấy Thị Mổ sinh Thường Nhiêm, Thường Lịch. Thường Nhiêm là quan viên tử, làm xã trưởng lấy Vũ Thị Khưởng, con Vũ Quản Xuân, đời thứ 13, chi 3, hiệu Từ Chính, sinh 1 gái là Thị Dưỡng. Thường Lịch làm quan viên tử, tự Thiêm Chính, lấy Vũ Thị Quynh, hiệu Đoan Trực sinh 2 trai Thường, Hảo, gái Thị Tinh. Tinh lấy chồng là Quang Minh, người Châm Khê, làm huyện thừa, sinh một trailà Nguyễn Công Lộ. Công Lộ lấy Lê Thị. Thường Mổ sinh Tuấn Tráng sinh đỗ, Tuấn sinh Dung trúng sinh đồ.

Vũ Văn Trương, con thứ cụ Vũ Tuấn Nghệ, trúng nho sinh, sinh 4 gái: Thị Nhuận, Thị Chuôi, Thị Trung, Thị Mộ, 1 trai Quang Nhạc.

Vũ Tề, con trưởng cụ Vũ Đại, làm hiển ty lại xứ Sơn Nam, hiệu Nhâm Trai, sinh 2 gái một trai Vũ Trạm.

Vũ Tào, con thứ cụ Vũ Lại sinh Vũ Trụ, Vũ Phán, Vũ Thổ, Thị Lựu, Thị Duyên. Cụ Làm đô lại binh khoa, hiệu Sức Trai. Cụ bà Vũ Thị Mật, con thái bảo Vũ Cư Nhân, chi 5, đời thứ 9, hiệu Mỹ Hành.

Vũ Duyện, con út cụ Vũ Đại, hiệu Nhã Trực, cụ bà Lê Thị Mỹ, đời thứ 9, họ Lê, sinh Thị Bài lấy chồng làm đồng tri phủ Hạ Hòa, tên là Vũ Điều, đời thứ 4, phái Đinh.

Đời  thứ mười:   Vũ Chanh, con trưởng cụ Vũ Tiến Trung.

Vũ Phúc Đại, con thứ cụ Vũ Tiến Trung, sinh Vũ Phúc tiểu.

Vũ Đà, con thứ ba cụ Vũ Tiến Trung.

Vũ Quang Nhạc, con cụ Vũ Văn Trương, phụng thị nơi vương phủ, giỏi làm văn quốc âm, được vua khiến triều thần soạn bài tụng “Trung hưng công nghiệp”, đến đoạn nói sự đồ thua trận, các quan đều lấy làm khó, cụ làm một câu “ví như mặt trời bị đám mây che trong chốc lát”, được vua khen, thưởng cho 20 lạng bạc. Trải làm chức thống chính sứ phó sứ, tước An Vĩnh Bá, hiệu Lịch Trai, nhà ở thôn Tây.

Thọ Lính Bá có thơ: Tổ kim thiệp liệp tố đa chi, tử thủ thao bồi cận tuỵ duy, quốc sự uỷ thân trung nhất tiết. Truyền gia hiếu đại hân do khuy.

Dịch nghĩa:                   Cổ kim thông suốt thật đa tài.

Việc công trọn vẹn chẳng kém ai.

Với nước lòng trung đà trọn vẹn

Chỉ hiềm không có đức con trai

Vũ Trạm, con cụ Vũ Tề, sinh Vũ Huỳnh.

Vũ Trụ, con trưởng cụ Vũ Tào.

Vũ Phán, con thứ cụ Vũ Tào

Vũ Phổ, con thứ cụ Vũ Tào, có tài ba phụng sự đức Hoằng tổ dương vương sai khiến, được ý vua. Thường theo đi đánh dẹp, có công, thăng chức công bộ lang trung, vinh phong tán tri công thần, tước văn hùng tử, thọ 79 tuổi, hiệu Nhương Trai quý công. Bà cụ Vũ Thị Tư, hiệu Thiên Khánh nhụ nhân, 50 tuổi chưa có con, xem bói ở phường Phúc Cổ, thầy đoán hậu tử tôn phát đạt, nhưng phải kỳ đảo, cụ lập đàn cầu tự. Sau sinh Vũ Phú Xuân, Vũ Thị Dậu lấy Vũ Nhân Cơ phái Đinh, đời thứ 6; Vũ Thị Doãn lấy Vũ Duy Đoán, chi 5, đời 11; Vũ Thị Luân lấy Vũ Công Đạo phái Đinh, đời thứ 6.

Thọ lĩnh bá có thơ: Trung lệnh tài kỳ, đức hữu gia. Hoạn Thành danh lập thế quang hoa. Dình lan khánh đối môn giai khánh. Dư khánh tòng chi tích thiện gia.

Dịch nghĩa:          Đã có tài lại đức cũng cao.

Hoàn thành sự nghiệp đấng anh hào.

Một phúc đức đều trọn vẹn.

Cũng bởi đời xưa tích phúc nhiều.

Đời thứ mười một:  Vũ Phúc Tiểu, con cụ Vũ Phúc Đại, sinh Vũ Từ Bi.

Vũ Huỳnh, con cụ Vũ Phạm.

Vũ Phú Xuân, con cụ Vũ Phổ, sau đổi tên là Vũ Dương Phổ, có tài học, nhất cử đỗ Hương tiến, thi hội 6 khoa chỉ trúng tam trường, năm đầu Vĩnh Thọ (1658) làm chức giảng dụ. Sau bổ tri huyện Lục Ngạn, nay thuộc Bắc Giang, ở huyện 9 năm dân không kiện tụng, được dự bực thượng khảo, mở trường dạy học, 18 học trò đỗ Tiến sĩ, thăng tri phủ, trải chức hiến sát phó sứ An Quảng. 70 tuổi hưu trí, thọ 83 tuổi, hiệu Quyến Trai, khi tống trung con cháu đều năm sáu mươi tuổi, đầu bạc cả. Bà cụ Vũ Thị Khoan, hiệu Nhu Huệ Nhân, sinh Vũ Đăng Hiển, Vũ Đăng Vinh, Vũ Đăng Mổ, Vũ Thị Khuông, lấy Lê Cộng Vọng, Vũ Thị Dần, lấu Vũ Quốc Hoa, chi 5, đời 11.

Thọ Linh Bá có thơ: Tư bẩm hành học xuất nho gia, hoạn lịch triều kiệm quốc ba. Giả thị bình tâm thiên thọ cách. Thọ khoa ích kiến doanh khoa.

Dịch nghĩa:           Tư bẩm thông minh vốn nếp nhà

Làm quan đã trải lắm triều vua

Trời còn để hưởng thêm tuổi thọ.

Vẹn cả đời đằng thọ với khoa.

Đời thứ mười hai:     Vũ Từ Bi, con cụ Vũ Phúc Tiểu, cụ làm tự thừa ở bản xã, sinh Vũ Sâm.

Vũ Đăng Hiển, con trưởng cụ Vũ Phú Xuân, sinh năm Kỷ Sửu (1649) có chí học cao, học cụ Vũ Công Đạo, văn chương tinh mật, khoa thi hương năm Bính Ngọ (1666) niên hiệu Cảnh Trị (1663 – 1672) có quan lại bộ Thị lang Nguyễn Văn Phong. Thấy làng Mộ Trạch gần đây, mỗi khoa đỗ hàng chục, ít ra cũng bảy, tám người, chắc là có cách mờ ám. Ông xin làm đề điệu, coi xét việc thi trường Hải Dương. Đến kỳ thi thứ tư, ông sai đào hố để học trò ngồi viết, có lồng tre úp lên trên. Tìm những câu hiểm để ra đề thi. Lại truyền các quan sơ khảo, phúc khảo trong nội rằng: quyển nào văn lý tinh bạch, không có dầu vết gì thì mới được lấy đỗ. Sau khi xét kỹ nội tràng đưa ra 30 quyển hợp cách, ông chỉ lấy 6 quyền cao nhất, còn đều thải bỏ. Xét thứ tư người yết bảng thì thứ nhất là Vũ Đăng Hiển, thứ hai là Vũ Bất Lại, thứ ba là Vũ Chấn đều là người làng Mộ Trạch. Còn ba người nữa thì một ở làng Ngọc Cục, một ở làng Hán Phương, một ở làng Cổ Am (Vĩnh Bảo). Như vậy, cụ Vũ Đăng Hiển đổ giải nguyên. Từ đấy, ông Phong mới tin làng Mộ Trạch đời nào cũng có danh khôi. Văn làm công khí, không có  tư vị. Sau cụ thi Hội 10 khoa mà chỉ trúng tam tràng. Khoa Tân Mùi, năm Chính Hòa thứ 12 (1691) cụ trúng ứu hạng khoa sĩ vọng, lại trúng ưu hạng thứ 2, 3 lần thi ngự đề đều trúng, được hưởng ngân tiền, làm quan trải hộ bộ viên ngoại lang., Sơn Tây hiến sát phó, Kinh Bắc thừa vi tham nghị. Vua cho là bậc danh sĩ, đặc cách tiến triều cũng như Tiến sĩ. Cụ xin nghĩ để nuôi cha già, mở trường dạy học, học trò hơn ngàn. Có 10 người đỗ Tiến sĩ như Phạm Đình Chung người huyện Đường An, Nguyễn Dong, Nguyễn Tuyển người Cẩm Giàng; Vũ Nhân Chiêu người Tứ Kỳ, Hòang Công Lạc người Thần Khê, Nguyên Viêm người Phù Dực. Trúng khoa sĩ vọng cũng nhiều cụ đặt tên nhà thờ là “Đức nghiệp Đường”. Khi giảng, cụ có những câu văn rất hay, ai nhớ được, vận dụng viết vào bài thơ đều đỗ cả. Như khoa hội Nhâm Thìn (1712), ông Hòang Công Lạc, gắp câu văn Tống sử, viết đúng, dỗ Tiến sĩ. Học trò tôn cụ là bậc tôn sư.

Cụ sọan cho người trong học là Vũ Phú Phương một bài văn tế bằng quốc âm, có người truyền đọc vào vương phủ, vua khiến cung bình để nghe.

Cụ lại tinh y học cứu sống nhiều người. Thọ 70 tuổi, hiệu Lãm Hiên. Cụ bà là Vũ Thị Vàng hiệu Hòa Dĩnh, con gái cụ Vũ Cầu Hối, sinh Vũ Thị Đại lấy Vũ Phương Nhạc, sinh Vũ Phương Đề ; sau ly dị, lấy Vũ Hiệu, chi 3, đời thứ 14, sinh Vũ Đăng Trạc, Vũ Lương Bột, Vũ Phương Lan. Bà Vũ Thị Đại có sắc đẹp, được khen là khuynh thành.Cụ Vàng tính ôn hòa, rộng lượng, có lần cháu ngọai là Vũ Phương Đề, 6 tuổi, cầm vòng kim thoa chơi ở ngòai đường bị kẻ lấy trộm mất, cụ không hối tiếc và không tra hỏi gì, người làng khen là hiền phụ. Bài Trạch thôn phong thổ dẫn của cụ Vũ Duy Đóan có câu nói về cụ Đại như sau: “Gái ngõ đông, ngõ giữa, mặt mũi tươi tỉnh khuynh thành”.

Cụ Hiển lấy vợ lẽ là Thị Tý sinh Vũ Thị Tính lấy Vũ Đăng Lâu, người phái Mậu đời thứ 9.

Có người tặng cụ đôi câu đối: Nhất cử thu vi lĩnh giải nguyên, đồng bảng lực danh ấp tam, khoa mục cổ lai Thành hãn hữu, thập đăng xuân cứu, kiêm ưu hạng, ngự đề tam, hòang trì nhất, văn học giả hội tồn. Dịch nghĩa: một lần đi thi đỗ giải nguyên, bảng đỗ có 6 người làng chiếm ba, từ xưa khoa mục hiếm có. Mười lần đua tài đều chiếm hạng ưu, ngự đề ba, hòanh trì một, văn học ấy bậc cao.

Vũ Đăng Vinh, con thứ hai cụ Vũ Phú Xuân, cụ cùng anh là Hiển đua chí trong nho lâm, đỗ Hương tiến, ba lần trúng hội tràng, làm tri huyện An Dương và Đường Hào, thăng chức là Mịch xứ Thanh Hóa, thọ 67 tuổi, hiệu Nhân Trai, cụ bà Vũ thị Thế, con gái cụ Vũ Đăng Long, phái Mậu, hiệu Nhu Tính phu nhân, sinh Vũ Đăng Khu. Bà kế là Vũ Thị Bàng, con gái cụ Vũ Duy Tư, chi 5, đời 12, sinh Vũ Đắc Thể, Vũ Đắc Ứng, Vũ Thị Dan lấy nho sinh Vũ Công Thuận; Vũ Thị Khỏanh lấy xã trưởng Vũ Đình Doanh, chi 3, đời 13; Vũ Thị Cảnh lấy Vũ Duy Hỷ, phái Mậu, đời thứ 8.

Vũ Văn Lịch, con thứ ba cụ Vũ Phú Xuân, sinh Vũ Đăng Huấn. Cụ đỗ Hương tiến, hưởng ẩm tử làm nho sinh trúng thức.

Đời thứ mười ba:  Vũ Xâm, con cụ Vũ Từ Bi, giúp việc trong vương phủ, trải làm chức lệnh sử cai hợp, được khen là cán biện làm việc giỏi, thụ chức huyện thừa Vĩnh Lại, thăng chức phủ dõan Đoan Hùng, nay thuộc Sơn Tây, hiệu Thanh Trai Vũ Công, lấy người huyện Hòai An, sinh một trai Vũ Dương Nghi.

Vũ Đăng Khu, con trưởng cụ Vũ Đăng Vinh theo học cụ Hiển, có tiếng là điển nho, năm 21 tuổi đỗ hương cống, 2 khoa thi hội đều trúng tam trường, bổ huấn đạo huyện Trùng Khánh, nay thuộc Lạng Sơn, thăng chức tri huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, làm việc giản dị, coi dân như con, người ta gọi là Phật sống. Khi cụ ở huyện, thường đi chơi nơi đồng điền dân dã, mỗi khi gặp lão nông thì nghiêng nón chào và nói chuyện làm ruộng. Có một hôm xã trưởng Bất Bể, làng Bói, huyện Ninh Giang, mới được nhận chức, đem tạ ơn cụ một con cá chép. Cụ hỏi giá bao nhiêu? Người ấy thưa thật mua ở chợ ba tiền (60 đồng kẽm là một tiền). Cụ bảo người nhà mang dao thớt, sai người ấy mổ cá làm gỏi, đưa tiền mua rượu, mời người ấy cùng ăn, uống no sai mới cho về.

Lại có một xã trưởng biếu cụ một buồng chuối tiêu, cụ hỏi nhà ấy có bao nhiêu người. Người thưa có 1 mẹ già và 2 con nhỏ. Cụ lấy con dao nhỏ trong túi ra cắt 5 quả chuối đưa cho đem về biếu mẹ già 3 quả, cho mỗi con một quả. Thân với dân đến như thế đấy!

Lại một hômcụ đi ra ngòai chỉ có một người theo hầu, khi trở về, giữa đường gặp một người bán cá tươi. Cụ thích ăn gỏi, bỏ tiền ra mua một con cá chép, sai đầy tớ xách về. Anh chàng ấy đẹp trai, trước huyện có cô bán dầu, rượu yêu anh. Cụ biết chuyện ấy, khi về gần huyện cụ nghĩ thầm rằng anh này xách con cá chép, chị kia trông thấy, sợ có ý coi khinh, có thể dẫn tới trở ngại tình duyên Cụ liền giật lấy con cá xách về trước người đầy tớ thong thả về sau. Người nhà hỏi cụ, cụ bảo cái cớ như thế. Lòng bất nhẫn đối với người, có nhiều việc gương mẫu. Hết hạn cụ về làng mở trường dạy học. Nhiều trò thành tài. Cụ lại tinh nghề thuốc, nhiều người được nhờ ơn. Cụ là người khiêm tốn, đi ra đường gặp người làng, thường nghiêng nón chào. Uống rượu nhiều nhưng không say lọan, khéo hát lối ả đầu, nhưng  cũng không ra ngòai lễ giáo.

Năm Canh Thân (1740), năm đầu niên hiệu Cảnh Hương, minh chủ Nguyễn Cù, Minh Công Trác óanh, đánh đến làng ta. Cụ tránh lọan đến ở phường An Hương, phố Vạn Ninh, Châu Quan. Du quận công, coi như bậc thầy. Đến năm Cảnh Hương thứ 12 (1752), trở về địa phương Đông Nam, dạy học ở xã Bất Bế, huyện Vĩnh Lại. Cụ thọ 70 tuổi, hiệu Thư Trai, táng ở Mã Miếu, có câu trong văn tế: Thử vô ố, bỉ vô đố, sở tồn giả thần, viễn hữu vọng, khử hữu tư, kỳ danh viết Phật. Nay không ghét, kia không khinh, ấy thật là thần, xa thì mong, đi thì nhớ, thật tên là Phật. Nói câu này học trò Vũ Phương Lan viết thêm: Thời bất ngộ, nhi đại hiền viễn dẫn, thạng dương ngu sơn, thủy tình đào, thiên hữu tri, nhi phu tử sinh hòan tiêu đao nhiệm đông tây tự Phật, nghĩa là: Không gặp thời, người đại hiền phải đi xa, giá như vui nơi sơn thuỷ, giời có biết mà phu tử lại về, mặc áo Phật đi tiêu dao khắp đông tây.

Cụ bà là Vũ Thị Lan, hiểu ý dong phu nhân, sinh Vũ Đăng Nghiệp, Vũ Đăng Diên, Vũ Thị Chiêm lấy Vũ Trai Thiềm, phái Ất, đời 11, Vũ Thị Ẩn lấy Vũ Duy Nhẩm, chi 5; chồng chết lại lấy người khách ở phố An Hương, Châu Vạn Minh. Cụ lại có bà thiếp ở xã Đông La, huyện Thanh Miện, sinh Vũ Đăng Liêu, Vũ Đăng Cơ.

Vũ Đăng Thể, con thứ hai cụ Vũ Đăng Vinh, quan viên tử, hiệu Thoát Trai. Cụ bà là Vũ Thị Tòng, con gái cụ Vũ Phương Nhạc, chi 5, đời 13, sinh Vũ Đắc Vượng.

Vũ Đắc Ứng, con thứ ba cụ Vũ Đăng Vinh

Vũ Đăng Huấn, con cụ Vũ Đăng Dịch, đỗ sinh đồ, sinh Vũ Thị Trình.

Đời thứ mười bốn:  Vũ Dương Nghi, con cụ Vũ Sầm, ở mẩu quản, huyện Hoài An.

Vũ Đăng Nghiệp, con trưởng cụ Vũ Đăng Khu, khoa Bính Ngọ (1726) 22 tuổi đỗ Hương tiến, khoa hội năm Đinh Mùi (1727) trúng hội tràng, lĩnh tri huyện Tràng Thiện, hiệu Ích Trai. Bà cụ Vũ Thị Tình, con gái cụ Tiến sĩ Vũ Đình Ân, sinh Vũ Đình Bình, cụ dạy học ở huyện Thanh Hon (Tân Hưng, Thái Bình) lấy bà Đào Thị Chi, sinh Vũ Đăng Cát, Vũ Đăng Nhâm, Vũ Đăng Giáp, Vũ Đăng Thân (hai ông đẻ sinh đôi) Vũ Thị Uyên, Vũ Thị Chiền.

Vũ Đăng Diên, con thứ hai cụ Vũ Đăng Khu, cụ bà Vũ Thị Lan, con cụ Vũ Duy Mô, chi 5, đời 13, sinh Vũ Văn Hợi, Vũ Thị Xuy, Vũ Thị Hằng. Bà thiếp sinh Vũ Thị Lũ.

Vũ Đăng Liêu, con thứ ba cụ Vũ Đăng Khu, cụ bà người làng Bắt Bế (làng Bói, Ninh Giang), sinh Vũ Đăng Liên, Vũ Thị Oản.

Vũ Đăng Cơ, con thứ tư cụ Vũ Đăng Khu, lại tên là Vũ Đăng Thức, đỗ Hương tiến khoa Kỷ Mão (1759), không cầu làm quan, là người chất phác, không cầu văn sức. Đời ấy có câu rằng: “Củ mỹ nọ cống cơ, cống hội”. Bà cụ Vũ Thị Duyên, con gái Vũ Thế Quyền, người chi 5, tính quê muà thật thà, việc nhà cứ mặc tự nhiên, thường có bát đĩa vài trăm chiếc mỗi ngày ăn uống, bát đĩa chưá một nơi, ăn hết lượt mới sai người đem rửa. Ông đi vắng xa, bà cụ và các con, sớm thì đi Quán Thục, chiều đến phố Thời Cử, để mua cơm ăn, trong bếp thường không thấy lửa. Sinh Vũ Đăng Nhu, mất sớm, lập con anh là Vũ Đăng Giáp làm thừa tự. Cụ Vũ Đăng Cơ làm Quốc tử giám giảng dụ, hiệu Mẫn Trai.

Vũ Đắc Khống, còn tên là đắc Vượng, con cụ Vũ Đắc Thế, có quân công, được bổ chức huyện thừa huyện Trường Thuận, tỉnh Lạng Sơn. Cụ bà là Vũ Thị Trạch, con gái Vũ Nhã Lương, chi 5, đời 14, sinh Vũ Phương Huy, Vũ Thị Tố lấy Vũ Thị Liệu, chi 5, đời 15.

Đời thứ mười lăm:  Vũ Đăng Bình, con trưởng cụ Vũ Đăng Nghiệp, đỗ nho sinh, hiệu Thanh Nhã.

Vũ Đăng Cát, con thứ cụ Vũ Đăng Nghiệp, đỗ nho sinh, thi hương trúng tam trường, khoá ấy kỳ tư, quan trường lấy văn cụ trúng cách, đến khi phúc khảo, quan nhầm lấy tên cụ để hỏi chữ “Bốc bất tập cát”, cụ cho là những chữ không tốt, không trả lời, nên phải đánh hỏng. Bà cụ là Vũ Thị Uyển, con gái Vũ Đình Điển, chi 3, sinh Vũ Đình Khuyếch, Vũ Thị Diễm lấy Vũ Nhật Huân, phái Tân, đời thứ 9, Vũ Thị Thường lấy Vũ Xuân Phương, phái Đinh, hiệu là Linh Tường.

Vũ Đăng Thư, con thứ ba cụ Vũ Đăng Nghiệp, sinh Vũ Đăng Nguyên, Vũ Thị Khuê.

Vũ Đăng Nhâm, con thứ tư cụ Vũ Đăng Nghiệp, tăng chức Hàn Lâm Viện thị độc, hiệu Trực Trai, bà cụ là Phạm Thị Thiển, người huyện Thanh Quan, sinh Vũ Đăng Luyên, Vũ Đăng Nhỉ, Vũ Đăng Hồng, Vũ Thị Trạch lấy Đặng Đình Dư huyện Thanh Quan, xã Cự Động, Vũ Thị Minh lấy Vũ Huy Thẩm, phái Kỷ, đời thứ 12.

Vũ Đăng Giáp, con thứ 5 cụ Vũ Đăng Nghiệp, hiệu Hòa Tuất. Bà cụ là Vũ Thị Nhớn, con gái cụ Vũ Phương Đĩnh, chi 5, đời 15, sinh Vũ Huy Bính, Vũ Văn Điền, Vũ Thị Át, lấy Vũ Danh Vưu, người thôn Quang Tiền, xã Thời Cử làm con nuôi ông Vũ Công Đính.

Vũ Đăng Thân, con thứ 6 cụ Vũ Đăng Nghiệp, hiệu Diễn Trai. Bà cụ người xã Cổ Cốc huyện Thiên Khê, con gái cụ Tổng bá sinh trai Vũ Đăng Cốc. Không hòa nên li dị. Lại lấy Vũ Thị Ưa, con gái ông Vũ Duy Khản, phái Đinh, đời 11, sinh Vũ Đăng Dân, Vũ Đăng Kèn, Vũ Đăng Sơn.

Vũ Văn HỢp, con cụ Vũ Đăng Diên

Vũ Đăng Liên, con cụ Vũ Đăng Liêu, sinh Vũ Văn Hầm, Vũ  Văn Mai

Vũ Đăng Nhu, con cụ Vũ Đăng Cơ, trước tên là Ngộ. Bà cụ Vũ Thị Mễ, con gái cụ Vũ Đăng Tiếu, chi 5.

Vũ Phương Huy, trước là Vũ Đắc Uông, con cụ Vũ Đắc Khổng, hiệu Nhược Lâm. Cụ bà sinh Vũ Thị Liêu, lấy Vũ Phương Mật, chi 5, đời 11. Lại lấy Vũ Thị Nhiệm, con cụ Vũ Tông Đản, phái Kỷ, đời 12, sinh Vũ Liêm.

Phụ chép: Hà Thế Toản con rễ cụ Vũ Đức nghiệp, người thôn Nam Thọ, xả Cát Hô, huyện Thanh Quan làm chức Thiêm Sự hiệu Đôn Hương, lấy bà Vũ Thị Yên, làm kế thất sinh Hà Thế Đỉnh, Hà Thế Bang, Hà Thế Cách, Hà Thế Chiêm.

Đời thứ mười saú:   Vũ Đăng Khuếch, con cụ Vũ Đăng Cát, lại có tên là Vũ Đăng Lân, hiệu Đức Trai. Cụ bà là Vũ Thị Thẩy, con gái Vũ Nhật Trị, phái Tân, đời thứ 10, sinh Vũ Canh Mục, Vũ thị Bún chị, Vũ Thị Bún em. Có thiếp là Vũ thị Bồ, con gái cụ Vũ Đinh Lâm, chi 3, đời 18, sinh Vũ Đăng Biêu, Vũ Thị Bé.

Vũ Đăng Nguyên, con cụ Vũ Đăng Thự, cụ bà là Vũ Thị Nhượng, con gái cụ Sơ Hòa, người thôn Kiêm Xá, Hà Nội, huyện Thanh Quan, sinh Vũ Đăng Đường, Vũ Đăng Khiết, Vũ Đăng Tiểu.

Vũ Đăng Luyện, con trưởng cụ Vũ Đăng Nhậm. Cụ bà Vũ Thị Ba, con gái Vũ Xuân Khiết, phái Canh, đời 13, sinh Vũ Đăng Văn, Vũ Thị Đo, lấy Vũ Duy Dân, chi 5, đời 18. Thứ nhất Vũ Thị Sáo, con gái cụ Vũ Đình Thường, chi 3, đời 18, sinh Vũ Đăng Cân, Vũ Đăng Du, Vũ thị Mổ lấy Vũ Duy Ích, chi 3, đời 17.

Vũ Huy Nhỉ, con thứ hai cụ Vũ Đăng Nhâm, thi hương đỗ ba khoa tú tài. Cụ bà Vũ Thị Ngữ, con gái cụ Vũ Đăng Khoa, chi 5, đời 17, sinh Vũ Huy Khúc, Vũ Thị Khắc lấy Vũ Huy Cửi, phái Kỷ, đời 13. Thứ thất sinh Vũ Thị Lếnh lấy Vũ Duy Lê, đời 16, chi 5.

Vũ Hồng, sau đổi là Vũ Tuấn, con thứ ba cụ Vũ Đăng Nhậm, khoa Tân Mùi (1821), năm Minh Mệnh thứ hai, 26 tuổi, đỗ cử nhân, chính hình bộ chủ sự, tri phủ Từ Sơn, thăng tuần phủ Hưng Yên, lại đổi tuần phủ An Quảng, bị cách chức, đi hiệu lực, lại được khôi phục chức án sát Thanh Hóa, Nghệ An, điều bổ chức hình bộ tả thị lang, rồi thăng tham tri bộ ấy, năm canh Tuất (1850), Tự Đức thứ 3, xin về nuôi mẹ già rồi mất ngày 12/7 năm Tân Hợi (1851). Thuỵ là Trọng Khải, hiệu Chính Trai. Chính thất Vũ Thị Nga người làng Văn Giáp, huyện Thượng Phúc, sinh Vũ Thị Mây lấy Vũ Lính, người làng Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, con cụ Thái Y Vũ Quýnh, Vũ Thị Sắn lấy Đỗ Khái Hóa, người Đỗ Xá, huyện Cẩm Giàng, con cụ tuần phủ, Đỗ Công. Bà thứ thất, người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn sinh Vũ Thị Gắm, lấy Nguyễn Khắc Giảng, người làng Bình Hồ, huyện Kim Động, con cụ lực học sĩ Nguyễn Khắc Vĩ, Vũ Thị Quyến, lấy Vũ Huy Quý, chi 5, đời 18; Vũ Thị Lương lấy Nguyễn Lương Chước, xã Đan Loan; Vũ Tảo. Kế thất Vũ Thị Cam, con gái cụ Hiệp biện học sĩ, Nguyễn Khoa Minh, người xã An Cựu huyện Thừa Thiên, sinh Vũ Thị Diệu lấy gia hung quận vương Hồng Hựu, con thứ 8 vua Tự Đức.

Vũ Huy Bính, con trưởng cụ Vũ Đăng Giáp, đỗ tú tài, cụ bà Vũ Thị Ngũ, con Vũ Đăng Thiêu, phaí Mậu, đời 12. Lại lấy bà Nguyễn thị Khoan, người thôn Đoài, xã Thượng Liệt, huyện Đông Quan sinh Vũ Văn Thấu, Vũ Thị Gấm, lấy Vũ Xuân Ban, con cụ Vũ Xuân Cầm.

Vũ Văn Điều, con thứ cụ Vũ Đăng Giáp. Bà cụ Vũ thị Nở, con cụ Vũ Nhật Luận, phái Tân.

Vũ Cốc, con trưởng cụ Vũ Thân.

Vũ Dậu, con thứ cụ Vũ Thân. Cụ bà, con gái Vũ Đình Tuyên, chi 5, đời 17, sinh Vũ Thị Hợi, lấy Vũ Huy Đoài, phái Kỷ, Vũ Thị Thú lấy Vũ Huy Bộ, phái Kỷ, đời 12, sinh Vũ Huy Đinh.

Vũ Kèn, con cụ Vũ Thân

Vũ Sơn, con cụ Vũ Thân

Vũ Văn Hầm, con trưởng cụ Vũ Đăng Liên

Vũ Liêm, con cụ Vũ Phương Huy. Cụ bà Vũ Thị Tế, con cụ Vũ Đình, chi 5, đời 15. Lại lấy bà Thư, em cụ Vũ Huy Hoát, phái Kỷ, đời 12. Lại lấy Vũ thị Khoản, con cụ Vũ Đình Tuyên, chi 5, đời 17, sinh 1 gái.

Vũ Văn Mại, con thứ cụ Vũ Đăng Liên, llấy bà Vũ Thị Lĩu, con gái cụ Vũ Đình Ban, không có con.

Đời thứ mười bảy:   Vũ Canh Mục, con trưởng cụ Vũ Đăng Khuếch. Cụ bà Nguyễn thị Lũ, con cụ Nguyễn Doãn, sinh Vũ Đăng Úc. Bà thứ người phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Kỳ, 1 gái lấy Vũ Huy Thuần phái Kỷ, Vũ Thị Ty lấy Vũ Công Lượng phái Đinh.

Vũ Đăng Biêu, lại có tên là Thanh, con thứ cụ Vũ Đăng Khuếch. Cụ bà họ Vũ, sinh một gái lấy Vũ Duy Đề, chi 5, đời 18.

Vũ Đường, con cụ Vũ Đăng Nguyên

Vũ Khiết, con thứ hai cụ Vũ Đăng Nguyên sinh Vũ Đăng Uyển.

Vũ tiểu, con thứ ba cụ Vũ Đăng Nguyên

Vũ Văn, con trưởng cụ Vũ Huy Luyện.

Vũ Ngọc Cẩn, con thứ cụ Vũ Huy Luyện. Cụ bà họ Khúc, người Nhữ thị, sinh Vũ Thị Nhớn lấy Nhữ Văn Khoa, làng Nhữ, Vũ Thị Tý lấy Vũ Đăng Điều, chi 5, Vũ Đăng Chản.

Vũ Ngọc Du, con thứ ba cụ Vũ Huy Luyện. Bà cụ con gái Vũ Đình Quang, chi 3, sinh Vũ Đăng Tiết. Thứ nhất con gái cụ Vũ Đình Phương, chi 3, sinh Vũ Thị Rưa lấy Lê Duy Khuy.

Vũ Văn Khúc, còn tên là Thâm. Cụ bà Vũ Thị Nhớn, con gái Vũ Đình Khuê, chi 3, sinh Vũ Thị Lộc, lấy Vũ Huy Nhu, phái Kỷ, Vụ Thị Bao lấy Vũ Duy Ngận, chi 5.

Vũ Tảo, con Vũ Hồng, ấm tử, tri huyện Kim Anh, hiệu Tuyết Nhi, trước lấy Trịnh Thị Thức, con gái Trịnh Nghi Đống; lại có kế thất Nguyễn Thị Hồ, con gái tú tài Nguyễn Xuân, xả Tống Xá, huyện Hiệp Sơn, sinh Vũ Chì; Vũ Thị Thắm lấy chồng xả Tuy Lai.

Vũ Văn Thấu, con Vũ Văn Bính.

Vũ Huy Đinh, con cụ Vũ Huy Đậu, sinh Vũ Huy Khanh, Vũ thị Đang lấy Vũ Xuân Ngựa; Vũ Thị Dung lấy tú tài Vũ Quỹ, xả Tuy Lai, Vũ Thị Con lấy Vũ Duy Lũng chi 5.

Đời thứ mướì tám:   Vũ Đăng Úc, con trưởng Vũ Canh Mục, sinh Vũ Thị Chấn lớn, lấy Vũ Trọng Thí, chi 5; Vũ Thị Chấn con lấy Vũ Huy Đảng, chi 5, sau lấy lẽ đô lại Nhỡ, xã Đan Loan. Thứ thất Vũ Thị Nấm, con gái Vũ Huy Hổ, phái Đinh, sinh Vũ Đăng Hải. Vũ Đăng tân, Vũ Thị Khít lấy Vũ Huy Liễu, phái Kỷ.

Vũ Đăng Kỳ, con thứ Vũ Canh Mục. Cụ bà con cụ Vũ Đình Tâm, chi 3, sinh Vũ Đăng Lạc, Vũ Thị Nhí lấy Vũ Công Trần, phái Đinh, Vũ Thị Lân lấy Vũ Đăng Kể, phái Mậu, không có con, lại lấy Vũ Xuân Điểm phái Đinh.

Vũ Văn Chản, con cụ Vũ Cận, cụ bà Vũ Thị Bồng, con gái Vũ Đình Thị, chi 3, sinh Vũ Thị Thêu lấy Vũ Xuân Bảo, phái Đinh.

Vũ Đăng Tiết, con Vũ Đăng Dụ, cụ bà Vũ Thị Cô, con cụ Vũ Đình Chép, chi 5, sinh Vũ Đăng Chế, Vũ Thị Sẹo lấy Vũ Duy Hùng chi 5; Vũ Thị Tý lấy Vũ Đăng Nhạc chi 5.

Vũ Phượng, con cụ Vũ Khúc, cụ bà con cụ Vũ Huy Điện, phái Kỷ, sinh Vũ Thị Nhớn, lấy Vũ Huy Truy.

Vũ Chì, con cụ Vũ Tảo, cụ bà Vũ Thị Vị, con cụ Thị Độc Vũ Đăng Thủ, phái Mậu.

Vũ Huy Khanh, con cụ Vũ Huy Đinh, cụ bà Vũ thị Nhỡ, con cụ Vũ Đăng Đại, phái Mậu, sinh Vũ Duy Thoa, Vũ Thị Khánh lấy Vũ Huy Nhiêm, phái Kỷ.

Đời thứ mười chínVũ Đăng Hải, con cụ Vũ Đăng Úc, cụ bà con gái ông vệ Be bên Hạ, sinh Vũ Đăng Khoát.

Vũ Đăng Tân, con thứ cụ Vũ Đăng Úc, cụ bà con gái Vũ Huy Oách, phái Kỷ sinh Vũ Đăng Ba, Vũ Đăng Nhai.

Vũ Đăng Lạc, con cụ Vũ Đăng Kỳ. Cụ bà là con gái Vũ Đăng Tý, chi 5, sinh Vũ Đăng Củ, Vũ Đăng Phiếm, 1 gái lấy Vũ Xuân thắng phái Đinh, 1 gái lấy Lê Duy, xã Dau Loan, Vũ Đăng Chiếu.

Vũ Đăng Thế, con Vũ Đăng Tiết. Cụ bà là con gái cụ Vũ Duy Nhi, chi 5, sinh Vũ Thị Thất lấy Vũ Huy Miên, phái Kỷ, Vũ Đăng Thắng, Vũ Đăng Biểu.

Vũ Duy Thoa, con cả Vũ Duy Khanh. Cụ bà là con gái cụ Vũ Xuân Khúc, sinh một gái, laị lấy người ở Trạch Xá sinh một gái. Cụ bị giặc Pháp bắn chết.

Đời thứ hai mươi:   Vũ Đăng Khoát, con cụ Vũ Đăng Hải lấy Vũ Thị Tinh, chi 5, sinh Vũ Đăng Thái, Vũ Đăng Trương, Vũ Đăng Linh. Vũ Thị lấy Vũ Huy Nghĩa phái Kỷ, Vũ Thị Mổ.

Vũ Đăng Ba, con cụ Vũ Đăng Tân, lấy Vũ Thị Mền, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Giang, Vũ Đăng Lãng, Vũ Đăng Quyên, Vũ Thị Tuyết lấy chồng ở Hà Bắc, Vũ Thị Liêu lấy chồng ở thị xã Hải Dương. Vũ Đăng Ba làm thư ký hộ lại sau làm chủ tịch UBCM.

Vũ Đăng Nhai, con thứ cụ Vũ Đăng Tân, đi lính sang Pháp hồi thế giới chiến tranh thứ hai, không có con.

Vũ Đăng Củ, chết sớm, con trưởng cụ Vũ Đăng Lạc.

Vũ Đăng Phiếm , con thứ cụ Vũ Đăng Lạc, không có con.

Vũ Đăng Chiến, con thứ ba cụ Vũ Đăng Lạc, bị hi sinh trong chiến tranh chống Pháp.

Vũ Đăng Thắng, con trưởng cụ Vũ Đăng Chế, lấy bà Vũ Thị Chuật, chi 5, sinh Vũ Đăng Sổ, Vũ Đăng Đức, Vũ Đăng hạnh, Vũ Đăng Kiểm.

Vũ Đăng Biểu, con thứ ba cụ Vũ Đăng Chế, lấy Vũ Thị Vì, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Sớ, Vũ Đăng  Sắc, Vũ Đăng Bằng, Vũ Đăng Bản, Vũ Đăng Phương, Vũ Đăng Tiêu.

2.      
2. CHI THỨ BA:

Đời thứ năm:   Vũ Hữu, con thứ ba cụ Vũ Bá Khiêm, sinh năm Tân Dậu, niên hiệu Thái Bảo thứ 2, tức năm 1441, học giỏi, đỗ Hương tiến năm Quang Thuận thứ ba (1460) năm Quý Mùi (1463), đỗ thi hội. Vào thi Đình, đỗ trạng nguyên có Lêng Thế Vinh, đỗ bảng nhởn có Nguyễn Đức Trinh, đỗ thám hoa Quách Đình Bảo, mười người đổ Hoàng giáp thì cụ đứng đầu. Cụ viết sách “Đại thành bản pháp” và “điền mẩu tân thuật”. Đầu thời Cảnh Thống, 1498, làm lễ bộ Thượng thư, rồi làm hộ bộ thượng thư, được ủy giám khảo điện thí khoa Nhâm Tuất (1502), cùng Phạm Đình Tá, ban gia phong cửu tính cho Mạc Đăng Dung, làm An Hưng Vương, thọ 87 tuổi (1441 – 1529). Cụ bà là Phạm Thị Tuyên, cháu tằng tôn, cháu đời thứ tư cụ Phạm Ngũ Lão, sinh một trai Vũ Vinh Thu, 1 gái lấy Lê Bá Thắng, đời thứ 6, họ Lê làng Mộ Trạch. Khi ấy cửa Đông Hoa và Đoan Môn, ở kinh thành xây từ triều Lý, vua muốn sửa lại, truyền cụ Trù Tính Nguyên, thưởng lộc điền 100 mẫu. Khi mất tặng phong Thái Bảo, tự Khả Đại, hiệu Ước Trai tướng công. Cụ là khai tổ chi thứ ba họ Vụ làng Mộ Trạch. Nhà thờ Hiển Đức Đường. Cụ có câu thơ tự thuật: Nhậm nhiệm chu niên quan lịch tiễn, tể người thường hữu, phạp ngưu canh (nhậm chức quan nhiều năm, trâu khao thì có, trâu cầy không. Nhà thờ cụ có đôi câu đối: a) Lục Bộ thượng thư đẩu toạ, tam công Thái bảo, quýnh thai phù. b) Thi thư lễ nhạc đôn hiền nghiệp, đức hạnh văn chương phú Thánh khoa. Dịch nghĩa: a) Thượng thư 6 bộ, ngôi tôn trọng, tam công thái bảo chức vị cao. b) Thi, thơ, lễ, nhạc năng hiền nghiệp. Đức, hạnh, văn chương rõ Thánh khoa. Ngày giờ tháng giêng mồng 8, cúng thân mẫu, hợp táng ở Đống Găng xư, mộ có bia đá.

Tô quận công có thơ: Nhị giáp nguy tiêu Tiến sĩ khoa, thận cần tam pháp nhất vô sai. Bộ Tào lịch thí lao năng chứ. Quan cục kiêm ưng vị võng xa. Đường tướng thư văn hân tống cảnh. Tấn triều báu vật tiện trương hoa. Môn đình thái tử tương huy cánh. Dư khánh tòng tri tịch thiện gia.

Dịch nghĩa:        Nhị giáp, nên cao, Tiến sĩ khoa

Thận cần ba giáp chẳng sai ngoa

Đã qua nhiều bộ làm cùng tốt.

Điều khiển việc chung tiếng vọng xa

Tống cảnh đời Đường không nhường bước

Trương hoa triều tấn cũng ngang đà

Phúc ấy cũng nhờ tích thiện gia.

Đời thứ saú:  Vũ Vĩnh Phu, con trưởng cụ Vũ Hữu, đỗ hương cống làm hiến phó xứ Thanh Hóa, giặc Chiêm xâm lấn, cụ bị hi sinh trong lúc giao chiến, vua tặng chức Thái Bảo, hiệu Thích Trai. Mộ táng gần mộ cụ sinh mẫu ở Mã Miễu. Cụ bà hiệu Trung Chinh phu nhân, sinh Vũ Dự, Vũ Trí Tiết. Thượng thư Vũ Cán làm bài văn tế ca tụng đức hạnh cụ viết ở quyển “làng Mộ Trạch, làng Tiến sĩ” trang 63.

Đời thứ bảy:  Vũ Dự, con trưởng cụ Vũ Vinh Phu, có công dẹp Lê Nghi Dân, cùng bọn gian thần Phạm Đồn, Phạm Bàn, tôn Lê Thanh Tôn lê ngôi,

3.     CHI THỨ NĂM

Đời thứ năm:   Vũ Phong, cụ khởi tổ chi thứ 5, con thứ 5 cụ Vũ Bá Khiêm, còn gọi là Trạng vật, làm cẩm y vệ đình uý ty chỉ huy sứ, hiệu Tốn Trai. Bà cụ Nguyễn Thị Nhỏ, sinh 5 trai: Vũ Giản, Vũ Soạn, Vũ Thục, Vũ Phảng, Vũ Đĩnh.

Tụ Tướng Ngũ Đoản. Đời Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) ra kẻ chợ, thấy vua ngự triều, có quan đô lực sĩ đứng hầu, vẽ hiên ngang. Cụ hỏi ra mới biết, ví có sức khỏe, vật giỏi, nên được vua yêu. Cụ tâu xin cùng người ấy đấu vật. Vua chuẩn cho và hẹn ngày. Ngày đấu đến, vua thân ngự xem. Khi đăng tràng, cụ ít cát trong tay, xông lên, khéo léo hất cát đúng mắt người lực sĩ. Người ấy luống cuống, cụ xốch nách quẳng ngã trên mặt đất. Vua khen là khỏe, lấy chức người lực sĩ phong cho cụ, gọi là dao diệt trạng nguyên. Mộ cụ ở Mả Miễu, nhà thờ cụ ở Ngõ Nam lấy tên là Lê Trạch Đường.

Tô quận công có thơ: Ngũ đoản tằng xứng tướng mạo kỳ. Tang bồng hồ thỉ hảo nam nhi. Nhất môn bá trọng quang hiền nghiệp. Thiên tái minh lương kết chửa tri. Ứng biến đạt tài thi hữu chính. Súng bình lệnh dự bá vu thì. Tử tôn húng thịnh đoan phi ngẫu. Thực đúc cao dao thệ ngã sư.

Dịch nghĩa:  Ngũ đoản xem ra tướng mạo kỳ. tang bồng hồ thỉ chí nam nhi. Một nhà huynh đệ nên hiền nghiệp. Xóm làng ngàn thửơ chúa thấy nghe. Ứng biến có tài nên được việc. Lệnh ban nghiêm mất đúng theo thời. Cháu con hưng thịnh từ đâu có. Đức độ cao dao lấy bậc thày.

Đời thứ 6:   Vũ Giản, con trưởng cụ Vũ Phong, đỗ Hương tiến, làm viên ngoại lang.

Vũ Loan, con thứ hai cụ Vũ Phong, làm huyện thừa huyện Gia Viễn, Ninh Bình, hiệu Thọ Niên, thọ 80 tuổi. Bà cụ Vũ thị Xuyên, con cụ Vũ Công Xa, sinh Vũ Quang, Vũ Hoàng, Vũ Đoán Biểu, Vũ Cẩn.

Tô quận công có thơ: Đa công tài nghệ xuất nhân trung. Lại sự quan hâm mỹ bất thông. Tằng bả thần cầu thù huyện trái. Tánh tương hiếu hữu kế gia phong. Đệ huynh bắt thiểm Hà Đông phương. Tự tuệ ưng oai huấn thị lang. Nhất mạch thi thư chi phái diễn. Đoan do tiên tổ phát hổng nguyên.

Dịch nghĩa:   Vốn tài biện luận lại nhiều công. Quan châm hiếm thấy sự thẳng thông. Từng đã thận cần khi trị huyện. Lại tròn hiếu hiếu hữu nối gia phong. Đệ huynh không kém Hà Đông phương. Nối giõi chẳng thua Tuấn thị lang. Một mạch thi thư bao phái diễn. Cũng do tiên tổ khó khơi nguồn.

Vũ Thục, con thứ ba cụ Vũ Phong.

Vũ Phảng, con thứ tư cụ Vũ Phong, làm tuần kiểm sứ, sinh Vũ Sư Trình.

Đời thứ bảy:  Vũ Quang, con trưởng cụ Vũ Soạn, đỗ Hương tiến làm tri huyện, huyện Tam Hòa (Thái Nguyên) hiệu Di Trai tiên sinh, sinh Vũ Lệnh Nghi, Vũ Hành Kiêm, Vũ Hương Hòa, Vũ Lương Khái, Vũ Kiêm Toàn và Vũ Thị Thuý Phương lấy Lê Kiều, họ Lê, đời thứ 7, là một quan thanh liêm.

Tô quận công có thơ: Tiện kiện kỳ văn hữu thử nhân, thuận ư hương đảng hiếu ư thân. Đăng song mãnh miễn tam dư chí. Đào lý phương nũng nhất huyện xuân. Thả hỉ tiết gia huynh đệ lạc. Tanh linh dương thị tử tôn bần. Nhân lại thuyết đáo bình sinh kế. Hữu cảm dư hoài lệ mãn cân.

Dịch nghĩa:  Vốn ngưỡng dòng dõi tư văn; xóm làng hòa thuận song thân hiếu thờ. Sách đèn khuya sớm văn thơ. Công danh nức, đào tơ huyện đường. Anh em vui vẽ thuận mừng. Nổi nhà thanh bạch giữ trai tiết trong. Nhân xem gia cảnh khi cùng cảm hoài lệ đến thấm khăn cầm.

Vũ Hoảng, con thứ hai cụ Vũ Soan.

Vũ Đăng Biểu, con thứ ba cụ Vũ Soan, đỗ hương cống, làm hình bộ ngoại lang, trí sĩ, hiệu Thuỵ Trai, cụ bà Vũ Thị Tuyên sinh Vũ Cư Nhân; Vũ Thị Diễm lấy xã trưởng làng Mạc Xá. Về trí sĩ cụ dạy học ở làng Mạc Xá. Tính sợ đãi ra đầu làng, thấy miếng đất cao, gọi là vườn Rầm, cụ bảo học trò: khi tầhy trăm tuổi, nên táng ở đây thì đỉa không lên được. Khi người mất, người nhà táng cụ ở đấy, gặp huyện đất tốt, tiếp phúc cho hậu ngũ chi. Cụ có thơ về cụ Vũ Đạo.

Vũ Cẩn con thứ 5 cụ Vũ Soạn, đỗ hương cống, làm huấn đạo phủ Đà Dương, Sơn Tây, trí sĩ, hiệu Học Hải, thọ 70 tuổi. Bà cụ người xã Xuân Hỉ, huyện Kim Hoa, xứ Kinh Bắc, sinh Vũ Tuân, Vũ Trạch.

Vũ Sư Trình, con cụ Vũ Phảng, làm để lại châu Thất Tuyên, tỉnh lạng Sơn, sinh Vũ Sư Không , Vũ Doanh chấp Vũ Tích, Vũ Thị Diễm, Vũ Thị Hấp, Vũ Thị Vĩnh.

Đời thứ tám: Vũ Lệnh Nghi, con trưởng cụ Vũ Quang sinh Vũ Lương Năng, Vũ Lương Tài, Vũ Thị Mỗ, lấy Vũ Duy Hiền chi 4.

Vũ Hành Kiểm, con thứ cụ Vũ Quang, đỗ nho sinh, sinh Vũ Hành Phúc, Vũ Thị Thang, lấy Vũ Phúc Thọ phái Kỷ.

Vũ Lương Hoà, con thứ ba cụ Vũ Quang làm để lại huyện Vĩnh Lại (Ninh Giang).

Vũ Lương Thái, con thứ tư cụ Vũ Quang làm chức dịch vệ thống lĩnh.

Vũ Kiêm Toàn, con thứ năm cụ Vũ Quang làm chức ngoại triệu ty xá nhân.

Vũ Cư Nhân, con cụ Vũ Đoan Biểu, đỗ sinh đồ, tăng chức thai bảo tả thị lang, tước Hồng hữu hầu, hiệu Thiên Chắt, thọ 52 tuổi, cụ bà Vũ Thị Mãn sinh Vũ Quốc Trình, Vũ Quốc Sĩ, Vũ Thị Nha, Vũ Thị Mật, lấy Vũ Tảo chi 2, Vũ Thị Đảng lấy Vũ Oanh.

Vũ Tuần, con trưởng cụ Vũ Cẩn, hiệu Điền Hiên, sinh Vũ Văn Hội, Vũ Văn Bút.

Vũ Tuấn Trạch, con thứ cụ Vũ Cẩn làm chức Cao Bằng thọ ti đô quan, tước Nghi Khê Bá, hiệu Tiết Trai, di cư đến quê mẹ ở Xuân Hi, huyện Kim Hoa, con cháu rất đông. Sau lại một chi xuống, Nhật Hi, huyện Giáo Thuỷ, Nam Định, con cháu cũng đông.

Vũ Sư Khổng, con trưởng cụ Vũ Sư Trình sinh Vũ Sư Đức, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Doanh Chấp, con thứ hai cụ Vũ Sư Trình. Bà cụ Vũ Thị Bích sinh Vũ Doãn Cung, Vũ Thị Đảng, lấy Vũ Tỉ, chi 3.

Vũ Tích, cn thứ ba cụ Vũ Sư Trình, sinh Vũ Ý, Vũ Lý, Vũ Vi, Vũ Thuỵ, 4 cụ đều không có con trai.

Đời thứ chín: Vũ Lương Năng, con trưởng cụ Vũ Lệnh Nghi sinh Vũ Lương Bài, Vũ Lương Trạch, Vũ Lương Tể.

Vũ Lương Tài, con thứ cụ Vũ Lệnh Nghi.

Vũ Hạnh Phúc, con cụ Vũ Hạnh Kiểm, đỗ sinh đồ, sinh Vũ Khắc Nhâm, Vũ Thị Mỗ, Vũ Thị Mỡ.

Vũ Quốc Trinh, con trưởng cụ Vũ Cư Nhân, làm ngoại thức ti sá nâhn, hiệu Hoà Trực.

Vũ QUốc SĨ, con thứ cụ Vũ Cư Nhân, thọ 54 tuổi sinh 5 con trai đều thành đạt. Mỗi con đều có nhà thờ riêng, gọi là “Hậu ngũ chi”. Cụ Vũ Quốc Sĩ là thái tổ nhà thờ “Vĩnh viễn đường”. Cụ đỗ hương cống, tặng phong thái bảo tả thị lang, tước Gia kHánh hầu, hiệu Hoàng Nghị. Cụ bà là Vũ Thị Thứ, con gái cụ Vũ Tuỵ chi 3 sinh 5 con trai: Vũ Tự Khoái, Vũ Bạt Tuỵ, Vũ Duy Chí, Vũ Phhương Trương, Vũ Cầu Hối. Bà thiếp Vũ Thị Long TRúc sinh Vũ Thị Đạm, lấy Vũ Cư phái Kỷ.

Cụ Quốc Sĩ người phái cổ, làng làm đình, cụ ra chơi thợ mộc nói: phiền cụ sửa giúp cái cưa. Người thợ cười bảo: già sao chất thế, không rửa bằng dao cưa, lại rửa bằng nước.

Cụ cùng cụ bà lên kinh đô,mang theo 5 đứa con trai. Cụ bà để mấy đứa trẻ vào thúng gánh. Đến chợ Bần, có một khách trú đến hỏi mua 2 đứa bằng 2 nén bạc. Cụ giận mằng lại, không bán. Người khách sợ hãi nói rằng: Bà già như thế mà gánh được 2 khanh tướng.

Đến kinh đô 2 cụ  ở phố Phác Cổ, tức đình Ngang. Cụ ông mở trường dạy học, cụ bà làm nghề đổi tiền. có bà bán lụa đến giao dịch, bỏ quên một bó lụa. Cụ bà bắt được. Sau thấy người ấy đến tìm, kêu khóc, tiếc của. Bà cụ đem lụa trả lại ai cũng khen.

Nhà cụ Vũ Quốc Sĩ ở ngõ Nam, phía Đông nhà thờ Thế Khoa ngày nay. Cụ thường nằm mộng có mây năm sắc hiện ra và ra ôm lấy.

Vũ Văn Hợi, con trưởng cụ Vũ Tuân, làm tam tri công thân, hiệu Trực Hiên, bà cụ Vũ Thị Bách sinh Vũ Ngọc Anh và Vũ Như Viêm.

Vũ Văn Bút, con thứ cụ Vũ Tuân sinh Vũ Thị Xuân.

Vũ Sự Đức, con cụ Vụ Sư Không, bà cụ Vũ Thị Thanh, sinh trai Vũ Khang, gái Vũ Thị Nhiêu lấy Vũ Tất Đắc, Vũ Thị Biểu lấy Hoàng văn Hầu, Vũ Thị Ánh.

Vũ Doãn Cung con cụ Vũ Doãn Chấp sinh Vũ Trung Lập, lấy Vũ Thị Mỗ, Vũ Ý, Vũ Lý, Vũ Vi, Vũ Thuỵ bốn con cụ Vũ Tích đều không có con nối dõi. Đời thứ mười. Vũ Lương Bài là con trưởng cụ Vũ Lương Năng, sinh Vũ Văn Thuật, Vũ Văn Huy, Vũ Văn Cổn, Vũ Thị Mễ.

Vũ Lương Trạch, con thứ hai cụ Vũ Lương Năng.

Vũ Lương Tễ, con thứ ba cụ Vũ Lương Năng.

Vũ Khắc Nhậm, con cụ Vũ Hành Phúc làm chức đồng châu. Bà cụ Vũ Thị Ngôn, con cụ Vũ Kỳ, chi 3 sinh Vũ Thị Khôn lấy Vũ Hướng phái Kỷ.

Vũ Ngọc Anh, con trưởng cụ Vũ Văn Hội. Bà cụ Vũ Thị Tôn, con cụ Vũ Văn Hưng, phái ất sinh Vũ Thế Trình.

Vũ Như Viêm, con thứ cụ Vũ Văn Hội, đổi tên là Vinh, huyện thừa huyện Lương Tài, hiệu Nghĩa Trang sinh Vũ Như Kính, Vũ Như Hiêu, Vũ Như Dán.

Đến đời thứ mười của chi thứ 5 họ Vũ Mộ Trạch, 5 con trai của cụ Vũ Quốc Sĩ là Vũ Tự Khoái, Vũ Bạt Tuỵ, Vũ Duy Chí, Vũ Phương Trương, Vũ Cầu Hối, gọi là 5 con rồng của làng Mộ Trạch, công danh hiển hách, con cháu đông đúc, lập ra 5 nhà thờ 5 cụ, gọi là hậu ngũ chi, đó là nhà thờ Vĩnh Viễn đường, Thế Khoa đường, Quang Chấn đường, Vĩnh Bảo đường và Nhuận Trách đường, thế thứ vẫn chép theo thứ tự của chi thứ 5 họ Vũ Mộ Trạch.

HNC I/1

Vũ Tự Khoái, con trưởng cụ Vũ Tắc Sĩ, làm công bộ hữu thị lang, tặng chức lễ bộ tả thị lang, tước chung: quận công thuỵ Cung hậu, hiệu Tức hiên tướng công. Bà chính thất Vũ Thị Diên, thiếp Vũ Thị Ấp, sinh Vũ Tự Cường, Vũ Thị Muôn lấy Vũ Đăng Khoa, chi 3. Cụ từ nhỏ đã có chí lớn, 17 tuổi ra chơi kinh đô, gặp hoằng tổ (Trịnh Tráng) vào hầu chốn Mạc phủ. Phù hoa làm loạn, cụ đem quân cự ở phố Phú Cổ, phá tan lũ giặc , thanh bình trở lại. Sau thường theo ngự giá đi đánh Quảng Nam, coi đốc quân lính, ai cũng sợ hãi. Sẵn có uy, khi về làng, trông về bên tả thì người bên tả tạt ra, trông về bên hữu thì người bên hữu tạt ra. Thọ 62 tuổi.

Cụ Thọ Lĩnh Bá có bài thơ: Nhất môn bá trọng chí công danh. Văn vũ tài kiêm tá thánh minh. Đương thế mạc tướng Trì Mặc thểu. Tiêu, táo, sự nghiệp diệc tranh vinh.

Dịch nghĩa: Công danh trưởng thứ vẹn toàn, vua hềin pphù giúp đôi đàng võ văn. Một thời môn trưởng cầm quân, Tiêu, Tào, sự nghiệp cũng ngần ấy thôi.

HNC II/1

Vũ Bạt Tuỵ, con thứ cụ Vũ Quốc Sĩ, khai tổ nhà thờ Thế Khoa Đường, cụ đỗ hoàng giáp khoa giáp tuất (1634), triều Lê Thuần Tôn (1619-1643) và Trịnh tráng (1623-1657) làm alị bộ đô cấp sự trung, thăng bồi tụng, phong tặng chức Thượng bảo tự khanh, tước huân trạch bá, hiệu Thuần Đạt, cụ bà Vũ Thị Minh, con gái cụ Vũ Diên phái ất, sinh Vũ Duy Đoán, Vũ Duy Thĩ, Vũ Thị Chung lấy Vũ Đức Thống, chi 3, Vũ Thị Bằng lấy Lê Công Triều.

Cụ cùng học với em là Vũ Cầu Hối, đỗ Hương tiến năm 26 tuổi, 33 tuổi đỗ hoàng giáp. Cụ là người làng Mộ Trạch đỗ đại khoa đầu tiên thời Lê trung hưng (1592-1788). Con cụ là Vũ Duy Đoán đỗ Tiến sĩ khoa giáp thìn (1664). Cháu cụ là Vũ Duy Khuông đỗ Tiến sĩ khoa Canh tuất (1670). Nhà thờ ba đời liền đỗ Tiến sĩ, nên nhà thờ đặt tên là Thế Khoa đường, có bia ghi nhận lại ở nhà thờ.

HNC III/1

Vũ Duy Chí, khai tổ nhà thờ “Quang Chấn đường”, con thứ ba cụ Vũ Quốc Sĩ, làm đến chức tham tụng, tể tướng, quốc lão, tước phong Phương quận công, thuỵ vĩ độ, hiệu Phác Trác tướng công. Bà chính thất là người Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, sinh Vũ Thị Hợp lấy Vũ Nhật Siêu, phái tân, Vũ Thị Điệp, Vũ Duy Dầu, lấy thiếp người xã Tam Di, huyện Gia Lâm, sinh Vũ Duy Năng.

Cụ tướng ngũ đoản, trán cao, cằm rộng, biếng học văn chương, chỉ chăm đao kiếm, cùng anh trưởng là Vũ Tự Khoái hầu đức đại  nguyên soái tây vương Trịnh Tạc, lúc tiền đế. Có một ngày vương làm chủ tế cung miếu, bỗng dải áo đứt. Cụ quỳ ở bên, lấy kim chỉ trong tay áo ra đính lại chúa khen là người ứng biến chu tấ6t. Sau thường đi hộ giá, 6 lần bình châu hoan, đánh nhau với chúa Nguyễn, 5 lần đánh nhà Mạc, nhà Mạc chiếm Cao bằng từ 1592 đến 1677. Khi ra bể khơi, điều lướng, lúc lên núi cao, đốc chiến huân danh lừng lẫy, ơn sũng đầm đìa. Triều thần có người nói: cụ xuất thân là lại, không phải không mục chính đồ. Chúa lấy chuyện sứ Tầu có Tiêu Hà, Tào Tháo, Tử phòng cũng như vậy để giả thuyết.

Ngày chính đản, chúa hạ chỉ cho các quan văn võ đến trêìu vua xong rồi, phải mặc nguyên triều phục đến phủ chúa lễ mừng. Cụ can không nên, việc làm khác thường như thế, chúa nghe theo.

Nay ở nhà thờ  Quang Chấn Đường có bia ghi công đức của cụ và bài cụ tự thuật với 8 câu đối vua ban cho cụ đã dịch ở quyển “ làng Mộ Trạch làng Tiến sĩ”.

Cụ thọ 75 tuổi, 12 năm sau cải thố, mở liệm, râu tóc còn nguyên.

Thọ lĩnh bá có thơ về cụ Vũ Duy Chí: Đắc quân, đắc đạo, đắc thời hành. Tể tướng danh liên quốc lão danh. Nho lại nguyên lại kỳ thể nhất. Nhất đường tự cổ, cổ kim vinh.

Dịch nghĩa: Có vua, có đạo, có thời hành. Tể tướng thêm liền quốc lão danh. Nguyên lại nho lại cùng một thế. Phụ tử cùng triều mấy hiển vinh.

Thọ lĩnh bá có thơ về cụ Vũ Bạt Tuỵ nói trên: Đức hạnh văn chương tổ hiển danh. Miếu đường vọng trọng chính thời hành. Phong tài sắc thọ quan do mệnh. Thế thế phong lưu khoa đệ danh.

Dịch nghĩa: Đức hạnh văn chương rất nổi danh. Miếu đường trọng vọng lúc thi hành. Tài cao tuổi thọ còn do mệnh. Nối đời sức nức đệ huynh vinh.

Vũ Phương Trượng, khai tổ nhà thờ Vĩnh bảo đường, hậu ngũ chi thứ tư, con thứ tư cụ Vũ Quốc Sĩ, làm chức công bộ hữu thị lang, trí sĩ tặng hình bộ thượng thư, tước Hương quận công, thuỵ thuần cẩn, hiệu Nhã Trai tướng công. Bà chính thất là Vũ Thị Đinh, con cụ Vũ Đình Chí, phái mậu, sinh Vũ Quốc Chấn. Bà thiếp là người Thanh Hoá sinh Vũ Phương Chính. Cụ đỗ thư toán ưu phần, 70 tuổi về trí sĩ được vua ban thai kỳ, có 4 đôi câu đối khắc vào bia của Vĩnh bảo đường, hiện còn ở nàh ông Vũ Phương Phách, đã dịch ra quốc ngữ xem ở quyển “Làng Mộ Trạch, làng Tiến sĩ”.

Thọ lĩnh bá có thơ:

Lập công đầu bút ngộ minh thì.

Sĩ hoạn danh hương thọ kỳ.

Dư phúc mưu hoàn lưu duệ hậu

Lão thành trí lự bản tiên tri.

Dịch nghĩa:

Gác bút lập công lại gặp thì.

Quan trường nổi tiếng, hương lão kỳ.

Dư phúc còn mưu sau mãi mãi.

Lão thành trí lự vốn tiên tri.

HNC V/1

Vũ Cầu Hối, khai tổ nhà thờ “Mạc Xá Đường”, sau đổi là nhà thờ “Nhuận Trạch đường”, hậu ngũ chi thứ 5, con thứ 5 cụ Vũ Quốc Sĩ, đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1659), triều Lê Thánh Tôn, Trịnh Tạc (1657-1682) làm tham chính xứ Thanh Hoá, hiệu Nah Triệt thai công, thọ 60 tuổi. Cụ bà Vũ Thị Thầm, hiệu Từ Thành, con gái cụ Vũ Triệt, chi 1, sinh Vũ Quốc Hoà. Vũ Thị Hiên lấy Vũ Đăng Long phái Mậu, Vũ Thị Hi lấy Vũ Đình Phúc Chi 3, Vũ thị Tý lấy Vũ Minh Đoàn, chi 3, Vũ Thị Tuỳ lấy Vũ Công Thông phái đinh, Vũ Thị Vàng lấy Vũ Đăng Hiệu chi 2.

Lúc bé đi học cùng anh Vũ Bạt Tuỵ, 47 tuổi mới đậu Hương tiến, đến khoa Kỷ hợi (1659) đỗ Tiến sĩ cùng khoá với cháu gọi bằng chú là Vũ Duy Hài và cháu gọi bằng cậu là Vũ Công Đạo. Hiện nay ở văn miếu Hà Nội còn bia Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi khắc tên 4 cụ làng Mộ Trạch là Vũ Cầu Hối, Vũ Bật Hài, Vũ Công Đạo và Lê Công Triều. (thơ 28 trang 462)

Vũ Ngọc Anh, con trưởng Văn Hội, lấy Vũ Thị Tôn, con gái cụ Vũ Văn Hưng, đời thứ 6 chi ất, sinh nam là Vũ Thế Trình.

Vũ Như Viêm, con thứ Văn Hội sau đổi tên là Tiến Vinh, làm huyện thừa huyện Lương Tài, hiệu Nghĩa phong, sinh 3 trai: Vũ Như Kính, Vũ Như Hạo, Vũ Như Thi.

Vũ Khang, con cụ Vũ Sư Đắc, lấy bà Vũ Thị Lâm không có con.

Vũ Truy Lập, con cụ Vũ Dân Cung, đỗ Hương tiến, tri huyện Nghi Dương.

Đời thứ mười một:Vũ Văn Thuật, con trưởng cụ Vũ Lương Bài sinh Vũ Văn Giáp.

Vũ Văn Huy, con thứ cụ Vũ Lương Bài, bà cụ họ Vũ hiệu Từ Hoà, sinh Vũ Chính Tề.

Vũ Văn Cổn, con thứ ba cụ Vũ Lương Bài sinh Vũ Thị Tiêu.

Vũ Thế Trình, con cụ Vũ NGọc Anh, làm đô lại, tự Pháp Hội. bà chính thất Vũ Thị Thống, con gái cụ huyện thừa Kim Thành Vũ Thế Lộc, sinh Vũ Thế Hưởng, Vũ Thế Nhương, Vũ Thế Khoa.

Vũ Như Kính, con cụ Vũ Như Viêm.

Vũ Như Dán, con thứ ba cụ Vũ Như Viêm, sinh Vũ Đình Dậu. Vũ Như Hiệu cọn thứ tư cụ Viêm.

HNC I/2

Vũ Tự Cường, con cụ Vũ Tự Khoái, hiệu Thanh Hoà, làm hình bộ thị lang, tước Bái Trạch Nam, thọ 70 tuổi. Bà chính thất và bà thiếp sinh Vũ Tự Đức, Vũ Tự Phong.

HNC II/2

Vũ Duy Đoán, con trưởng cụ Vũ Bạt Tuỵ đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1664) triều Lê Huyền Tôn, Trịnh tạc (1657-1682) làm thượng thư, tặng công bộ tả thị lang, tước Hoa đường xuyên tử, hiệu Tính Yên. Cụ chính thất Vũ Thị Doãn sinh Vũ Duy Khuông, Vũ Duy Tử, Vũ Duy Khang, Vũ Duy Ninh, Vũ Thị Quyết lấy Vũ Đăng Đường, phái mậu; Vũ Thị Giai lấy Vũ Đình Thiều chi 3.

Cụ lúc nhỏ rất nhác. Cả ngày không thuộc một một dòng chữ. Năm 17 tuổi muốn đổi làm nghề khác. Một đêm nằm mơ thấy thần mổ bụng, cạo hết dơ bẩn, tỉnh dạy thấy còn đau. Sáng ra làm lễ tạ. Cụ thân sinh bắt đầu như dạy vỡ lòng. Từ đó học tấn tới. Khoa tân mão (1651) đỗ giải nguyên. Lúc ấy Khang vương ở chốn Mạc phủ là thế tử gặp có biến. Kẻ đầy tớ bỏ chạy cả, một mình vẫn theo sát chúa. Đến lúc Khang vương làm tiết chế vâng mệnh đi đánh Châu Hoan, nhà Nguyễn. Cụ vào chầu chốn màn trướng không cứ việc lớn nhỏ đều hỏi đến. Người đời bấy giờ bảo cụ là quan nội tướng. Khoa giáp thìn (1664) đỗ Tiến sĩ, vua cho áo cẩm bào, đãi bằng lễ đặc cách. Cụ cương trực thường hâm mộ ông Trương Cửu Ninh, tôi nhà Đường. Khuyên vua cứ dâng thơ “Kim giám lục” bằng quốc âm, vua khen dùng. Khi ấy vương phủ mê chơi gà tốt đến, cứ đỡ gà để xem, thuận tay vật gà chết, để can vua. Vua lặng ngắt, đình buổi chọi gà, không nói một lời.

Có sớ Tầu sang, cụ vâng lệnh ra nghinh tiếp, cùng sứ Tầu sướng hoạ, từ bến sông Nhị Hà đến sứ quán, 20 bài thơ. Sứ Tầu kính phục. Đến nhà khách ăn yến, đương tiệc nhỡ riệu chúa đến, cụ xin lỗi và đọc thơ:

Kiên tiện ngô công quế bánh khôi. Quan phu sự liễu quán phương hồi. Bảo ngô đạo vị chân giai thú. Hà tất giang đình vấn nhất bôi.

Dịch nghĩa: Chịu đứt ông Ngô tột bực tài. Sau khi việc sứ đã xong xuôi. No nê mùi đạo gì hơn nữa. Nọ phải cầu thêm rượu một bôi.

Cụ vâng lệnh đi nhận tù binh nhà mạc do người tầu trao trả ta, sau khi ta đã thu phục được Cao Bằng. Trong lệnh vua viết,tên kẻ nội thần là Hàm quận công trên tên cụ, mà lúc ấy cụ đã là thượng thư. Cụ không nhận lệnh. Emhọ cụ là Vũ Công Đạo bấy giờ làm đô ngài ngự sử cùng đập đầu can vua nên viết lại lệnh. Khang vương giận bảo: Ngày trước ghét gà hay của ta, ta đã ngơ không nói, nay lại quật cường thế sao?Bảo cụ Vũ Công Đạo là vào bè đảng với cụ và ra lệnh bãi chức cả hai cụ. Thu hết bằng sắc của hai cụ. Hai cụ trả hết sắc cho vua, riêng bằng Tiến sĩ không chịu nộp. Hai cụ bảo rằng: bằng Tiến sĩ là công lao và tài học của tôi, tôi không giám nộp. Sứ không dám ép hai cụ, trong triều ai cũng phục tài hai cụ.

Hai cụ về làng thường đến quán Kỳ Anh, tự làm bài tán quán Kỳ Anh. Hai cụ cùng các cụ đã về nghỉ trước làm hội khuynh cái (gác lọng). Cụ sáng tác những bài thơ “Phạm lai du ngũ hồ”, “Trạch hương phong thổ dần”, “Nông gia khảo tích kỳ”, “di văn ký”. Khi cụ làm quan cụ cũng có những tác phẩm như: “liễu đình ký”, “tràng an thập cảnh”, “phó kinh nhật trình”, “cao bằng mạn hu”, “giới văn, giới thử”. Các bài ấy đều bằng quốc âm, tiếc rằng chưa sưu tầm được di bản, trong phả chỉ giới thiệu đầu bài. Lại óc bài phủ “bảo tâm nhiệt hoá” và “thị trương minh ký”, người đời bấy giờ truyền tụng, mà nay không ai nhớ. Thời ấy có râu khen: “Lúc trung hưng có hầu vĩnh kiều, sức là cụ thượng thư hoàng công khải, người Lại Xá, huyện Lương Tài, sau trung hưng có đường xuyên tử” là khen thơ thanh cao của cụ .

Ít lâu sau chúa lại phục chức cho hai cụ.

Cụ thọ 60 tuổi. Khi chết văn tế có câu: “Trí quán Kỳ Nghiêu, Thuấn, Đường, Ngu, tơ nhân dĩ cao quỳ, Tắc, Tiết, Tố Uẩn hung trung bình trị, rực đại chiếu cái thế chi huyền cơ lý doanh hư, tối nan tuyên tiết (cụ tư soạn). Dịch nghĩa: Kẻ muốn như thời Nghiêu, Thuấn, Đường, Ngu, làm được như Cao Quỳ, Tắc Tiết, thay đổi thời thế mà thật khó thay.

Vũ Duy Thì, con thứ hai cụ Vũ Bạt Tuỵ, đỗ Hương tiến, làm huấn đạo phủ Phụng Thiên (Hà Nội) thăng tri huyện Vĩnh Lại (Ninh Giang). Bà cụ Vũ Thị Liễu, con cụ Vũ Tuấn, phái ất, sinh Vũ Duy Bá, Vũ Duy Tu, Vũ Duy Khiêm.

HNC III/2

Vũ Duy Hài, còn gọi là Vũ Bật hài, con trưởng cụ Vũ Duy Chế, Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1659) làm lại bộ tả thị lang, tặng chức lễ bộ thượng thư, tước thư trạch bá, thuỵ Đan Thận, hiệu Bồ linh tướng công. Thọ 77 tuổi. Cụ bà con quan thị lang Phạm Hiển, xã Ngọc Cục sinh Vũ Bật Lai, Vũ Duy Nguyên, Vũ Duy Chục, Vũ Bật Mỗ, Vũ Thị Ái lấy Vũ công Đạo, phái đinh. Hia bà thiếp người xã Vân canh, huệyn Từ Liêm, sinh Vũ Duy Mô. Thiếp người Ngọc cục sinh Vũ Duy Thuyên. Cụ thọ 57 tuổi. Văn chương cao rộng khoa bính thân (1656) quyển của cụ tinh bạch không sai lầm. Vì quan tur7ờng xét nhầm một chữ, đánh hỏng. Khi đã treo bảng, cụ bố lĩnh quyển văn của cụ, cùng các liêu hữu xem, thấy không sai lầm, cho là quan tràng không công bằng, định đem việc đó tâu vua. Cụ lấy bố và các quan thủa rằng: thi cử có phận ở trời định, nay tràng đã xong rồi, nơi ra quan tràng phải tội, mình chẳng ích gì! Con có tâm học tập ắt trời không phụ. Quả nhiên đến khoa Kỷ Hợi (1659) cụ thi và đỗ Tiến sĩ cùng với chú là Vũ Cầu Hối, cậu là Vũ Công Đạo, và Lê Công Triều.

Có tướng Minh là Đặng Điêu đem hơn trăm binh thuyền vượt biển sang ta xâm chiếm vùng Đầm Hồng tỉnh Quảng Yên. Triều đình sai vương tử tống quận công, đem quân thuỷ tiễn đánh. Cụ làm chức đốc chiến. Cụ dùng chức cho con gái đẹp phố chợ, mỗi chị một khăn đỏ, đêm xuống tàu giặc lả lơi. Nhiều đêm tới, dùng khăn mặt dắp nước vắt vào lòng súng, rồi kéo thuyền về. Ngày hôm sau quân ta tiễn công. Giặc bắn lại, súng bị ướt không nổ, phải dương buồm chạy. Quân ta đuổi bắt được thuyền lương và con gái 16 tuổi rất đẹp, cụ đem về dâng chúa. Khoảng niên hiệu Dương Đức, cụ được cử đi sứ Tàu, làm tròn nhiệm vụ và thăng tước bá.

Thọ kĩnh bá có thơ về cụ Vũ Duy Đoán.

Đại tài, dại dụng, quá minh duyên. Phụ tử khoa danh thức tiếp bên. Bất khuất cao phong đạn bệ tại. Thời hành, thời chỉ mệnh do thiên.

Dịch nghĩa: Tài hơn, ngôi cao, gặp duyên lành. Cha con khoa bảng tiếp liền danh. Không sợ gió to, thềm ngọc đó. Lúc hành lúc chỉ, mệnh do thiên.

Thọ lĩnh bá có thơ về cụ Vũ Duy Hài.

Thái điểm tư tưởng, diệu sử hoa. Miếu đường trọng vọng tải y xa. Thiên tài nhược sử thiên niên giả. Huân nghiệp ưng tư chấn lã gia.

Dịch nghĩa: Rực rỡ tư trương đẹp sứ hoa. Miếu đường trọng vọng chữ y xa. Thiên tài đã đến ngàn năm tuổi. Huân nghiệp so hơn cả Lã Gia.

Vũ Duy Cần, con thứ cụ Vũ Duy Chí, làm phụng thì văn chức, lễ bộ viên ngoại lang, tước Hoa Trạch Nam, hiệu Mẫn Trai. Bà cụ Vũ Thị Lệnh sinh Vũ Duy Nhuận, Vũ thị Bích lấy Vũ Công Đạt. Bà thiếp hiệu Uỵên Dung, người Hà Xá, sinh Vũ Duy Tư, Vũ Thị Cấp lấy Vũ Trọng Chân, chi 3, Vũ Thị Biến lấy Vũ Đình Lâm chi 3.

Vũ Duy Địch, con thứ ba cụ Vũ Duy Chí, trước tên là Tự, lại tên là Duy Nghĩa, đỗ nho sinh, ấm Hoàng Tín đại phu, hiệu Tuấn Nhã, bà cụ là Vũ thị Thiêm, người xã Hoạch Trạch sinh Vũ Duy Dũng.

Vũ Duy Dần, con thứ tư cụ Vũ Duy Chí, ấn hoàng tín đại phu, sinh Vũ Thị Tích lấy Vũ Công Tố, phái đinh.

Vũ Duy Năng, con phái năm cụ Vũ Duy Chí, ấm hoàng Tín đại phu. Bà cụ hiệu Diệu Trang sinh Vũ Thị Thái lấy Vũ Đình Vạn chi 3, vũ Thị Sở lấy Vũ Trọng Uẩn phái mậu.

HNC IV/2

Vũ Quốc Chân, con Vũ Phương Trượng, đỗ nho sinh làm phó câu kệ tượng thần, rồi làm đồng tri phủ Từ  Sơn, tước Huy Trạch Tử, hiệu Ninh Thư. Bà cụ Đỗ Thị Phương, người xã Hoạch Trạch, sinh Vũ Phương Nhạc. bà thiếp sinh Vũ Thị Chân lấy Vũ Công Dịch phái đinh.

Thọ lĩnh bá có thơ: Ban liên quý cận tiện thànbh danh. Thiên lý hầu theo tếh sở vinh. Thuê nội giả tri phong hoá xuất. Khắc gia tất kiến chấn gia thanh.

Dịch nghĩa: Liên ban gần quý được thành danh. Ngàn dặm quan trao thế đã vinh. Nhà trong mở hết nền văn hoá. Nếp cũ rõ ràng nổi thành danh.

Vũ Phương Chính, con thứ ba cụ Vũ Phương Trượng, đỗ nho sinh, làm hữu mịch xứ Hưng Hoá, tước Trạch Nam chất Trai, sinh Vũ Phương Hạch, Vũ Phương Khiết, Vũ Thị Hồ, Vũ Thị Rật, Vũ Thị Trật.

HNC V/2

Vũ Quốc Hoa, con trưởng cụ Vũ Cầu Hối, đỗ nho sinh. Bà chính thất là con gái cụ Vũ Công đạo, sinh Vũ Thị Mỡ. Thứ thất Vũ Thị Nguyện sinh Vũ Quốc Vôn, Vũ Quốc Tông, Vũ Thị Phó lấy Vũ Đình Hiếu chi 3.

Đời thứ mười hai, Vũ Văn Giáp, con cụ Vũ Văn Thuật sinh Vũ Văn Ất.

Vũ Chính Tề, con cụ Vũ Văn Huy. Bà cụ họ Vũ hiệu Từ Bao sinh Vũ Tuý Hướng.

Vũ Thế Hương, con trưởng cụ Vũ Thế Trình, làm đô lại, tự Pháp Trực, bà chính thất họ nGuyễn, sinh Vũ Thế Quyền. Thứ thất họ Nguyễn sinh  Vũ Nhã Lượng, Vũ Đình Rược. Lại thứ tấht sinh Vũ Đình Nhương, Vũ Đình Hoan, Vũ Thị Bá, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Thế Nhương, con thứ Vũ Thế Trình, làm huyện thừa huyện Đại Từ, Thái Nguyên, sinh Vũ Thế Tuệ.

Vũ Thế Khoa con thứ ba cụ Vũ Thế Trình, làm đồn điền sở sứ, hiệu Phúc Trực, sinh Vũ Thế Chúc.

Vũ Đình Dân, con trưởng cụ Vũ Như Dán, làm xã trưởng, sinh Vũ Xuân Tiêu,Vũ Thị Dung lấy Vũ Công chấn phái canh.

HNC I/3

Vũ Tự Đức con trưởng cụ Vũ Tự Cường.

Vũ Tự Phấn, con thứ cụ Vũ Tự Cường, làm Thiên sự cụ bà Vũ Thị Ngoan, người xứ Thanh Hoá sinh Vũ Tự Nghi.

HNC II/3

Vũ Duy Khuông con cụ Vũ Duy Đoán, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) làm lễ khoa cấp sự  trung, tặng chức tham chính, tước An Khê Nam, hiệu Du Phương. Cụ bà Vũ Thị Năng sinh Vũ Duy Hân, Vũ Duy Thành, Vũ Duy Vinh, Vũ Duy Hoàn. Vũ Thị Đạm lấy Vũ Trọng Lâu chi 3, Vũ Thị Hổ lấy Phạm Trọng Tuấn, Liêu Xá, Phù Ủng.

Thọ Lĩnh Bá có thơ: Thế Khoa, thế tước hiệu Thần trung Quan thượng cần lao, sự khắc tàng. Đoàn sứ hưu bình gia hiếu Khiểm. Nghĩa hinh do thảo quốc âm phong.

Dịch nghĩa: Nối đời khoa, tước vốn trugn thần. Việc quan chăm sóc thẩy đều cần. Ngắn, dài khen ngợi nhà hiếu hữu. Tiếng thơm cũng thoả nước ơn phong .

Vũ Duy Tư, con thứ hai cụ Vũ Duy Đoán, đỗ giải nguyên làm tả mịch sứ  Sơn Tây, phụng sai coi việc trong hương thí bất cẩn, bị cách chức. Bà cụ Vũ Thị Luyện, sinh Vũ Thị Bảy lấy Vũ Đinh Vinh, chi 2, Vũ Thị Các lấy Vũ Tất Thông, chi 3.

Vũ Duy Khang con thứ ba cụ Vũ Duy Đoán, đỗ hương cống, làm hiến sát sứ Thanh Hoá, hiệu Cung tốn. Bà cụ Vũ Thị Chiêm, con gái cụ Vũ Công Đạo, phái Đinh, sinh Vũ Thị Thìn, lấy Vũ Công Thực, phái Đinh. Bà thiếp người Mai Xá Kim Động sinh Vũ Duy Canh.

Vũ Duy Ninh con thứ tư cụ Vũ Duy Đoán, đỗ hương cống, làm Kiến cần vệ điển bạ, hiệu Điền Hoà. Bà cụ Vũ Thị Kế, con cụ Vũ Đăng Long, phái Mậu sinh Vũ Duy Uyên, Vũ Thị nẻo lấy Nguyễn Thường Thịnh. Bà thiếp người thọn Hạ sinh Vũ Thị Siêu lấy Phan Nghiễm.

Vũ Duy Bá trước tên là Vũ Bát Luận, con trưởng cụ Vũ Duy Thì, đỗ nho sinh, bà cụ Vũ Thị Khương, con gái Vũ Công Lượng, phái Đinh, sinh Vũ Duy Huyên, Vũ Duy Kính.

Vũ Duy Tư, con thứ cụ Vũ Duy Thì, làm nho sinh sinh Vũ Duy Cao.

Vũ Duy Khiếm, con cụ Vũ Duy Thì, lấy người xã Hoa Đường sinh Vũ Duy Mậu.

HNC  III/3

Vũ Bất Lại con trưởng Vũ Duy Hài, đỗ hương cống làm tham nghị sứ Sơn Nam, tặng chiêu liệt đại phu, thông chính sứ ti, thông chính sứ, tước Lâm Trạch Nam, hiệu An liêu

Bà cụ Vũ Thị Vấn con thứ cụ Vũ Minh Tá chi 3, sinh Vũ Duy Cung, Vũ Thị Thái lấy Vũ Công Tín, phái đinh. Vũ thị Độn lấy Vũ Thái Viễt phái ất, kế thất Phạm Thị Tiến, cha là tham chính sứ Sơn Nam, mẹ là công chúa Trịnh Thị Ngọc dung, ông là Tiến sĩ thượng thư Phạm Công Trứ, người xứ Liêu xuyên huyện Đường hoà sinh Vũ Huy Am, Vũ Duy Trác, Vũ Duy Hàm, Vũ Thị Uyên lấy người huiyện Đường Hào. (Vũ Duy Am về quê mẹ huyện Đường Hào , năm 1994 con cháu là luật sư Vũ Quý Vĩ, kỹ sư Vũ Mạnh Hà về Mộ Trạch nhận họ, cúng tíên làm nhà khách trước cửa Miếu).

Thọ Lĩnh Bá có thơ: Thị nội thân bồi một vật quan. Cần dung địch nghĩa sự tòng vương. Câu đương tuy vị sơ tâm toại. Lưu Đắc cong danh cửu viễn hương.

Dịch nghĩa: Trong nội thân bồi kín khó tường chăm làm theo nghĩa sự tòng vương. Chức rách tuy chứa sơ tâm toại.công danh để lại mãi còn vang.

Vũ Duy Nguyện con thứ hai cụ Vũ Duy Hai, đổ nho sinh trung thứ, hiệu Dĩnh Đạt. Bà cụ Vũ Duy Hảo, con Vũ Đinh Chất chi 3sinh Vũ Duy Du, Vũ Thị Hạnh, Vũ thị Hồng lấy Vũ Duy Ơn chi 3, Vũ Thị Sinh lấy Vũ Xuân Nhai phái canh.

Vũ Bạt Trực con thứ ba Cụ Vũ Duy Hài, đổ nho sinh, hiệu Đồng hiêu. Bà cụ Vũ Thị Tônbg1 công cụ Vũ Công Tướng phái đinh sinh Vũ Duy Huyên, Vũ Duy Dảng, Vũ Thị Danh lấy Vũ Công Bá phái đinh.

Vũ Bật Mỗcon thứ tư cụ Vũ Duy Hài bà cụ là Vũ Thị Hồng, con cụ Vũ Hướng phái Kỷ chồng mất sớm, không có con đi tu ở chùa huyện Từ Liêm, Sơn Tây.

Vũ Duy Mô con thứ năm cụ Vũ Duy Hài, đổ hương cống, loàm thêm sự viện thiên sự, hiệu Bác Nghi. Bà cụ Lê Thị Kình, con cụ Vũ Công Quán, sinh cụ Vũ Duy Dự, Vũ Thị Lam lấy Vũ Đăng Diên chi 2, Vũ Yhị Liên lấy Vũ Công Bật phái đinh Vũ Thị Điển lấy Vũ Duy Hán phái đinh.

Cụ bình sinh là người khảng khái. Lúc ấy làng có 4 người cứng  cổ. mạn thần, thất lễ gọi là tứ hung, cụ sướng xuất quan viện, văn thộuc, các sắc mục thân bị bắt trói, kể chính tội ác khiến họ tạ lỗi xin chùa.

Cụ được quan trấn thủ Kinh bắc tặng chiếc mủ, cụ làm bài thơ tạ lại bằng quớc âm: chẳng phải may, mà chẳng phải cấu. O8n người đã được đội trên đầu . Chỉnh chiện trước đã sang thẩy trước. Phô phô sau lại ẩm về sau. Gio nho dầm ấm từng quên nếp. Biết lấy chi mừng, chúc sống lâu.

Vũ Duy Thuyên con thứ 6 cụ Vũ Duy Hài đổ hương cống, làm hiến sát sứ Tuyên quang, hiệu trung túc. Cụ bà Nguyễn người thôn Hạ sing Vũ Duy Đăng, Vũ Duy Vinh.

Vũ Duy Nhuận con trưởng cụ Vũ Duy Cần, họ chức ấm làm huyệnthừa Thanh Xuyên tỉnh Phú Thọ Hiệu Khoan Phu.

Vũ Duy Tự con thứ cụ Vũ Huy Cần, đỗ nho sinh là huyện thừa huyện Vọng doanh, hiệu Khiết Trai. Bà cụ Vũ Thị Nhàn con cụ Vũ Trác Lạc, phái Ất, sinh Vũ Văn Mậu. Vũ Văn Khanh. Vũ Thị Lỗ lấy Lê Công Toản. Vũ Thị Thuỳ lấy Vũ Đình Luân, Vũ Thị Phách lấy Vũ Công Toại, phái Đinh.

Vũ Duy Dũng con Vũ Duy Địch, hiệu Ý Trai. Bà cụ Lê Thị Cảnh, con cụ Vũ Minh Doãn, chi 3, sinh Vũ Thị Liên, lấy Vũ Trọng Phái, phái Kỷ.

HNC IV/3

Vũ Phương Nhạc con cụ Vũ Quốc Chân, đỗ hương cống làm đông các hiệu thư, tước Diên Trạch Bá, trí sĩ, hiệu Lý Hiên, thọ 73 tuổi. Trước lấy Nhữ Thị Ngọc, con gái cụ tiếm sĩ Nhữ Tiến Dung, làng Hoạch Trạch, bà bỏ đi ở chùa. Sau lấy Vũ Thị Mồi, con cụ Vũ Đăng Hiển, chi 2, sinh Vũ Phương Đề, rồi ly dị. Lại lấy Nguyễn Thị Phức, người huyện Gia Lâm, sinh Vũ Phương Truưng, Vũ Phương Thân, Vũ Thị Khuyên, Vũ Thị Duyên. Bà thiếp Nguyễn Thị Cam, người Thanh Hoá, sinh Vũ Thị Biêm. LẠi thiếp Nguyễn Thị Cam sinh Vũ Phương Đẩu, Vũ Phương Trực. Vũ Thị Nhẫn, Vũ thị Hoàng.

Vũ Phương Hanh con trưởng cụ Vũ Phương Chính.

HNC V/3

Vũ Côn, con trưởng cụ Vũ Quốc Hoa, đỗ nho sinh.

Vũ Tông, con thứ cụ Vũ Quốc Hoa, đỗ nho sinh, hiệu Ẩn Trai. Bà cụ Vũ Thị Minh con cụ Vũ Công Tuỳ, phái Đinh sinh Vũ nho giáo, Vũ Duy Nham, Vũ Thị Mô lấy Hà Mổ, xã An Cư.

Phụ lục: Vũ Công Đạt con cụ Vũ Duy Cần, người xã Thời cử, đỗ giải nguyên Khoa Tân Mùi (1691) đỗ Tiến sĩ, làm Tham chính, lấy Vũ Thị Bích sinh Vũ Công Luât, Vũ Duy Mô lấy Vũ Thị Mổ lấy Vũ Duy Hàm, bản chi..

Đời thứ mười ba – Vũ Văn Ất con Vũ Văn Giáp.

Vũ Duy Hướng con cụ Vũ Duy Tề bà cụ họ Vũ hiệu Từ hiền, sinh Vũ Công Dương, Vũ Công Sứa.

Vũ Thế Quyền con trưởng Vũ Thế Huống, đỗ sinh đồ, sinh Vũ Thị Duyên lấy Vũ Đăng Cơ chi 2.

Vũ Nhã Lượng con thứ 2 cụ Vũ Thế Huống, đỗ sinh đồ, làm cai hẹp, hiệu Khiếm nhu bà cụ họ Vũ sinh Vũ Thị Thanh lấy chồng Vũ Đình Điển chi 3, Vũ Thị Đột lấy Vũ Xuân Dục bản chi, Vũ Thị Vẹt lấy Vũ Đắc Thống chi 2, Vũ Xuân hoà

Vũ Đình Dược con thứ 3 cụ Vũ Thế Huốngsự thuấn chất bà cụ bà cụ họ Dương sinh Vũ Thế Phác.

Vũ Đình Nhượng con thứ 4 cụ Vũ Thế Huống Bà cụ họ Nguyễn, người huyện Đông Triều sinh Vũ Văn Dực, Vũ Thị Tửu lấy Vũ Đình khắc, Vũ Thị Đoàn lấy Vũ Chánh Quyền, Vũ Thị Khoan lấy Phó Kiêm.

Vũ Đình hoan con thứ 5 Cụ Vũ Thế huống. Bà cụ Vũ Thị Xuyển con cụ Vũ Trọng Liêu chi 3 sinh Vũ Đình Tư.

Vũ Thị Huệ con cụ Vũ thế nHưỡng đỗ nho sinh. Bà cụVũ Thị Xuyên sinh Vũ Thế Truân.

Vũ Thế Chức còn tên là Vũ Đình Khôi con cụ Vũ thế Khoa. Bà cụ Lê Thị Văn sinh Vũ Thế Gia, Vũ Thế Tài, Vũ Thị Mổ, Vũ Thị Nhời lấy Vũ Bá Cát phái mậu.

Vũ Xuân Tiêu con cụ Vũ Đình Đậu, đỗ sinh đồ.

HNC I/4.

Vũ Tự Nghi con cụ Vũ Tự Phấn, ấm quan viên tôn, làm con nuôi bà Quận Quế. Bà cụ Vũ Thị Ni, người xã Văn Nhuệ, huyện Thiên Thi sinh Vũ Đình Thọ.      

HNC II/4.

Vũ Duy Hận, còn gọi là Kỳ, con trưởng cụ Vũ Duy Khuông đỗ hương cống làm minh nghi vệ điển bạ, hiệu Pháp hiệu, thọ 60 tuổi. Bà chính thức họ Vũ, con cụ Vũ Công Thông phái Đinh. Bà thứ thức họ Nhữ sinh Vũ Duy Hiểu, Vũ Duy Dịêt.

Cụ tư thông với hầu gái người xã Từ Ô, huyện Thanh Miên. Người ấy về quê sinh một trai là Trần Văn Hoán nuôi lớn đến 7 tuổi, gửi lên cụ vỡ lòng dạy học, coi như con. Trần Văn Hoán sau đỗ Tiến sĩ. Con Trần Văn Hoán là Trần Văn Trứ cũng đỗ Tiến sĩ, cháu Trần Văn Trứ là Trần Văn Phan cũng đỗ Tiến sĩ. Người ta nói đức 3 đời đỗ Tiến sĩ từ Mộ Trạch truyền xuống Từ Ô, làng Từ Ô thời Trần Văn Hoán làm thành hoàng.

Vũ Duy Thành con thứ cụ Vũ Duy Khuông đỗ sinh đồ. Bà cụVũ Thị Khôi, con cụ Vũ Công Thông phái đinh sinh Vũ Thị Đội lấy Vũ Khắc Tế.

Vũ Duy Vinh con thứ 3 cụ Vũ Duy Khuông đỗ hương cống làm huấn đạo phủ kinh môn, hiệu Đoan Trực, bà cụ họ Phạm người xã Phù Ủng sinh Vũ Thị Mố.

Vũ Duy Hoàn con thứ 4 Vũ Duy Khuông đỗ hương cống làm huyện uý Thọ Xương,hiệu Phật Nhã,thọ 63 tuổi. Bà cụ Nhữ Thị Kính, người xã Hoạch Trạch, hiệu Từ Tuyên sinh Vũ Duy Yến, Vũ Duy Thái, Vũ Duy Tuấn, Vũ Thị Nghiêm lấy Vũ Công Tích phái đinh, Vũ Thị Đà lấy Vũ Thế Kế chi 3, Vũ Thị Non lấy Nguyễn Thụ xã Hoạch Trạch.

Vũ Duy Canh, con cụ Vũ Duy Khang, bà cụ Vũ Thị Mưu sinh Vũ Thị Mộ lấy huyện thừa huyện Xiêu Loại.

Vũ Duy Uyên, con Vụ Duy Ninh làm phó sứ sở Thiên Mạc, hiệu Pháp Hải sinh Vũ Thị Thiềm, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Duy Huyên, con trưởng cụ Vũ  Duy Bá đỗ hương cống tri huyện Hội Ninh, hiệu Tần Phu thọ 74 tuổi. Cụ bà Vũ Thị Phương con cụ Vũ Phúc Kỳ phái Ất sinh Vũ Bật Lại.

Vũ Duy Kình, con thứ Vũ Duy Bá đỗ sinh đồ, bà cụ Vũ Thị Luyến sinh Vũ Thị Doãn lấy Vũ Thái Hanh.

Vũ Duy Xứng, con cụ Vũ Duy Tư làm xã chính. Bà chính thức Lê Thị Bẩm sinh Vũ Thị Xuyên lấy Vũ Hoan bản chi.

Vũ Duy Mậu con cụ Vũ Duy Khâm sinh Vũ Duy Mô về quê mẹ ở xã Hoa Đường.

HNC III/4.

Vũ Duy Cung con trưởng cụ Vũ Bật Lại 15 Tuổi đỗ hương cống, á khôi, tri huyện Hiệp Sơn, hiệu Đốc Bộ bà chính thức người xã Phổ hoàng.

Vũ Duy Am con thứ cụ Vũ Bật Lại (về quê mẹ).

Vũ Duy Trác con thứ 3 cụ Vũ Bật Lại, đỗ hương cống, hiệu Giác Hiên, cụ bà Vũ Thị Loan sinh Vũ Duy Nhẫm.

Vũ Duy Hàm con thứ tư cụ Vũ Bạt Lại, đỗ hương cống, hiệu Quảng Hoạt. Cụ bà họ Vũ sinh Vũ Thị Huyên. Cụ khéo làm thơ.

Vũ Duy Du con cụ Vũ Duy Nguyên, đỗ hương cống tri huyện Hiệp Sơn, hiệu Uyên Ý. Bà chính thất Vũ Thị Hiến sinh Vũ Thị Nhi, Vũ Thị Luyến. Bà thiếp Phạm Thị Nghĩa sinh Vũ Duy Nhưng.

Vũ Duy Huyên con cụ Vũ Bặt Trực, ấm quan viên tử, hiệu Chu Mãn, cụ bà Vũ Thị Bình sinh Vũ Duy Thị.

Vũ Duy Giảng con thứ cụ Vũ Bặt Trực, ấm quan viên tử, hiệu Đa Nghệ. Cụ bà Vũ Thị Thản sinh Vũ Duy Thức, Vũ Duy Vọng, Vũ Duy Duệ, Vũ Duy Hào, Vũ Thị Nhiệt, Vũ Thị Nhiểm.

Vũ Duy Dự con cụ Vũ Duy Mô, đổ nhất cả giải nguyên, tri phủ Hạ Hồng, hiệu Tấn Trai. Bà cụ vũ Thị Dĩnh con cụ Vũ Trọng Phái, phái Kỷ, sinh Vũ Duy Ngạn, Vũ Duy Đoan, Vũ Duy Trang, Vũ Duy Thuần, Vũ Duy Hoan. Vũ Thị Luyến, Vũ Thị Bật, Vũ Thị Lộc.

Vũ Duy Đảng, con trưởng cụ Vũ Duy Thuyên, ấm quan viên tử. Bà cụ họ Vũ sinh Vũ Duy Hân.

Vũ Duy Vịnh con thứ cụ Vũ Duy Thuyên, ấm quan viên tử, cụ bà Nguyễn Thị Tình sinh Vũ Duy Thi, Vũ Thị Đoan.

Vũ Văn Mậu con Vũ Duy Tư.

Vũ Văn Khanh, con Vũ duy Tú.

HNC IV/4

Vũ Phương Đề, con trưởng cụ Vũ Phương Nhạc đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (17360 làm tham chính sứ Kinh Bắc, tặng chức đông các đại học sĩ, tước Xuân Trạch Bá, hiệu Trạch Hiên. Bà cụ Vũ Thị Chập, sinh Vũ Thị Nạt. Bà thiếp Vũ Thị Dĩnh sinh Vũ thị Diên, Vũ Thị Lang. Lúc nhỏ học thông minh, 17 tuổi đỗ hương cống, năm Ất Mão (1735) tri huyện Đông An. Người nhà là Lê Duy Quyết, đêm nằm mơ thấy cưa câu đối nhiêm sở hoá làm 2 con rồng. Trước kỳ thi hội lại có con cú ngọng kêu ở ngõ. Đến lúc cụ đi thi vừa ra khỏi cổng gặp ông già hỏi: Trong nhà có tế không? Cụ trả lời có. Nhân triết tự chứ tế là nửa chữ Đăng khoa, quả nhiên khoa ấy lấy đỗ 15 người cụ xếp thứ 8.

Về hưu, vua ban thai kỳ, có thơ cho cụ Vũ Phương Nhạc, thân sinh cụ Vũ Phương Đề. Quốc tịch liên phương hoa địa võng. Hoà bình đốt tư thụ gia thanh. Tử lý liên đề nhiêu thắng hội. Hồng châu phong thuỷ ngạo tường xuân.

Dịch nghĩa: Sổ quế liền thơm đất vang hoa. Sân hoè gốc đẹp tiếng cây nhà. Làng đã trải qua nhiều thắng hội. Mảnh đất Hồng Châu xuân vẫn dài (đưa lên trang 154).

Vũ Phương trưng , con thứ hai cụ Phương Nhạc.

Vũ Phương Châu con thứ ba cụ Vũ Phương Nhạc, đỗ nho sinh, hiệu Đôn Thuần. Bà cụ Nhữ Thị Trình con cụ Nhữ Trọng Thai, bảng nhởn xã Hoạch Trạch, sinh Vũ Phương Đĩnh, Vũ Phương Ngạn.

Vũ Phương Đẩu con thứ tư cụ Vũ Phương Nhạc, đỗ hương cống, làm thông chính sứ thiêm lại phiên, tước Miên Trạch Tử, hiệu Trung trực tiên sinh. Cụ bà Nhữ Thị Nhuận, người làng Hoạch Trạch, ấm phong quận phu nhân, tục gọi bà Quận Quế, sinh Vũ Thị Vực lấy đại tướng Phạm Ngô Cầu, Vũ Thị Diễm lấy bồi tụng Vũ Miện tổ tiên ở Mộ trạch, di cư đến xã Ngọc Quan Lăng Tài, hiện nay còn lăng bà Vũ Thị Diễm ở đấy. Năm Đinh Sửu (1757) niên hiệu Cảnh Hưng, bà Quận Quế xuất tiền nhà ra làm đình, lại cúng 400 quan tiền và 10 mẩu ruộng, được làng bầu làm hậu làng, hiệu ở đình làng Mộ Trạch, còn bia ghi việc này (xem “làng Mộ Trạch làng Tiến sĩ”).

Vũ Phương Trực con út cụ vũ Phương Nhạc, đỗ nho sinh, hiệu Lịch Hiên. Bà cụ Vụ Thị Thế sinh Vũ Phương Cư, Vũ Thị Dính, lấy Vũ Đăng Các, phái Mậu.

HNC V/4.

Vũ Nho Giáo, con trưởng Vũ Tông, do quân công được chiếu đồng tri châu vị xuyên. Bà cụ Vũ Thị Hỷ sinh Vũ Đăng ngan, Vũ Đăng Đức, Vũ Thị Đoàn.

Vũ Duy Nham, con thứ Vũ Tông, theo hầu quân mệnh quang xuân trạch hầu. Bà cụ Vũ Thị Bích sinh Vũ Đăng Kiều, Vũ Đăng Vấn, Vũ Đăng Đình, Vũ Thị Thinh và Vũ Thị Trách.

Phụ Lục: Nguyễn Thường Thịnh, người thôn hạ, con rễ cụ Vũ Duy Ninh, đỗ Tiến sĩ, lảm binh Khoa độ cấp sự trung lấy Vũ Thị Neo sinh Vũ Thường Minh.

Phạm Nghiêm người My Nhữ, con rễ cụ Vũ Duy Ninh, cháu từng diệt cụ Tiến sĩ thượng thư Phạm Minh, đỗ Hương tiến, chức tham chính sứ Yên Quảng lấy Vũ Thị Siểu sinh PhạmTiến kình, Phạm Thị Uyên lấy Vũ Duy Đức phái chi.

Vũ Đình Huân con rễ cụ Vũ Duy Tự, làm phó sở sứ, lấy Vũ Thị Thuỳ sinh Vũ Đình Lựu.

Vũ Dường con rễ Vũ Thế Huống, người xã Hoạch Trạch, tri huyện, lấy con gái út cụ Vũ Thế Huống, sinh vũ Thị Mỡ lấy tư nhu làng Hoạch Trạch.

Vũ Công Quát con cụ Vũ Công Dật sinh Vụ Thị Lương.

Đời thứ mười bốn:

Vũ Công Dương con trưởng Vũ Duy Hướng bà chính thức họ Vũ sinh Vũ Văn Đang di dân vào Thanh Hoá.

Vũ Đình Sưa con thứ hai cụ Vũ Duy Hướng, tự phúc thiện, hiệu Từ Hoà, bà cụ họ Vũ, sinh Vũ CÔng Minh, Vũ Đăng Tiểu,Vũ Thị Dung.

Vũ Xuân Hoà con cụ Vũ Nhã Lượng, làm cai hẹp, bà cụ Vũ Thị Hợpsinh Vũ Thị Hoa, Vũ Thị Quỳnh.

Vũ Đình Phác con cụ Vũ Đình Dược, bà chánh thất Nguyễn Thị Huyên.

Vũ Văn Vực con cụ Vũ Đình Nhượng làm xã sử, bà cụ họ Nguyễn, làm Hưng nhân sinh Vũ Thị Cán.

Vũ Đình Tự con Vũ Đình Hoan, đỗ sinh đồ, làm huyện thừa, huyện Thiên bản là con nuôi Lê Trung con bà cụ Vũ Thị Thịnh phái mậu.

Vũ Thế Truân con cụ Vũ Thế Tuệ, cai hẹp, sinh Vũ Đình Thuần, Vũ Thị Lan lấy Vũ Đình Tài, Trạch Xá,Vũ Thị Cán lấy Vũ Thị Kiều bản chi.

Vũ Thế Gia con trưởng cụ Vũ Thế Chức.

Vũ Thế Tài con thứ cụ Vũ Thế Chức, làm khán thủ, bà chính thất là Vũ Thị Lượng sinh Vũ Thị Hoá lấy Vũ Đình Kính bản thôn kế thất sinhVũ Thị Dậu lấy Vũ Phương Để phái chi.

HNCI/5.

Vũ Đình Thọ con Vũ Tử Nghi. Bà chính thất là Vũ Thị Vị, con cụ Vũ Đăng Khôi bản chi sinh Vũ Thị Thoa lấy Vũ Đình Cảnh phái Ất, Vũ Đình Pháp, Vũ Đình Chính, Vũ Thị Vược, Vũ Đình Chí, Vũ Đình Chép, Vũ Thị Sửi lấy Vũ Khắc Tiết chi 3, Vũ Thị Mổ lấy Vũ Phương Hán bản chi.

HNCII/5.

Vũ Duy Hiểu con trưởng cụ Vũ Duy Hân, ấm nhiêu nam ở Kinh Đô làm nghề bối số nổi tiếng. Bà cụ Vũ Thị Vinh con gái Vũ Công Thực, phái đinh sinh Vũ Thị Lê, Vũ Thị Quyên, Vũ Tích Nhượng, Vũ Thị Mẫn lấy Nguyễn Mỡ, xã Phù Binh, Đông Ngàn, Vũ Thị Nhưỡng lấy Vũ Phương Cư bản chi sau lấy Đào Mỡ.

Vũ Duy Điệt con thứ cụ Vũ Duy Hân, làm lệnh sứ` nhất phiên cai hợp. Bà cụ Vũ Thị Thiện con Vũ Công Hoành, phái đinh, sinh Vũ Xuân Dục, Vũ Thị Sức lấy Vũ Thật Triệu phái tân.

Vũ Duy Yến, con trưởng cụ Vũ Duy Hoàn, đỗ hương cống, làm huấn đạo phủ Phụng Thiên, hiệu Thái Hiến. Bà cụ Vũ Thị Dong, con cụ Vũ Hiệu chi 3, sinh Vũ Thế Nho, Vũ Thị Nhãng lấy Vũ Xuân Nghinh phái đinh, thọ 56 tuổi.

Vũ Duy Thái, con thứ Vũ Duy Hoàn, ấm quan viên tử. Bà cụ Vũ Thị Thứ, con cụ Vũ Trọng Phái, phái Kỷ, sinh Vũ Đình Liêu.

Vũ Duy Tuấn, con thứ ba cụ Vũ Duy Hoàn, đỗ hương cốnglàm chức đại lý tự, tự thừa, hiệu Thự Trai, cụ bà Vũ Thị Chinh, hiệu Thục Cần, sonh Vũ Duy Hinh, Vũ Thị Yến. Kế thất Vũ Thị Thực người My Thữ, sinh Vũ Duy Huệ, Vũ Thị Nãnh, Vũ Thị Quàng, Vũ Thị Đoài.

Vũ Bật Lại, con cụ Vũ Duy Huyên, đỗ hương cống, làm tri huyện Thiên Bản , hiệu Bạc Phu, bà cụ Nhữ Thị Kinh sinh Vũ Thị Dục, Vũ Xuân Ôn..

HNC III/5

Vũ Duy Nhẫm, con cụ Vũ Duy Trác, ấm quan viên tử, bà cụ Vũ Thị Ôn sinh Vũ Duy Mưa.

Vũ Duy Nhưng, con Vũ Duy Du, do quân công, làm huyện thừa Thọ Xuân, bà cụ Nguyễn Thị Lạ, người Phương Duệ, Thương Phúc sinh Vũ Duy Đức, Vũ Duy Dơi, Vũ Thị Nhân, Vũ Thị Nhuận.

Vũ Duy Thị con Vũ Duy Huyên, đỗ sinh đồ, bà cụ Vũ Thị Duyên, sinh Vũ Thị Nức.

Vũ Duy Thức, con trưởng Vũ Duy Đảng, đỗ sinh đồ. Bà cụ họ Vũ sinh Vũ Duy Ngô,Vũ Duy Hứa, Vũ Duy Thiệm, Vũ Thị Thảnh.

Vũ Duy Vọng con thứ Vũ Duy Đảng, đỗ sinh đồ, cụ bà Vũ Thị Ất, sinh Vũ Duy Mô, Vũ Duy Khoan.

Vũ Duy Duệ con Vũ Duy Giảng.

Vũ Duy Ngạn, con tên là Trọng Tuân, con trưởng cụ Vũ Duy Duệ đỗ giải nguyên, làm hàn lâm viện hiệu thảo, hiệu Thuần Trai. Cụ bà họ Nguyễn sinh Vũ Duy Viên, Vũ Thị Hoản, Vũ Thị Khuê, Vũ Thị Đôn, Vũ Thị Năm.

Vũ Duy Đoan còn tên là Trọng Chư, con thứ hai cụ vũ Duy Dự. Cụ bà Vũ Thị Huyền, con gái Vũ huy Đĩnh phái Kỷ.

Vũ Duy Trang còn tên là Trọng Ngân, con thứ ba Vũ Duy Dự. Bà cụ Vũ Thị Hoan lập diệt là Trọng Ngạc làm thừa tự.

Vũ Duy Thuần, còn tên là Trọng Hàn, con thứ tư cụ Vũ Duy Dự. Cụ bà Vũ Thị Thán, sinh Vũ Thị Hoan, Vũ Thị tam, Vũ Trọng Nghiễn, Vũ Trọng Ngạc, Vũ Trọng Dám.

Vũ Duy Hoan, con thứ năm cụ Vũ Duy Dự, ấm quan viên tử, cụ bà Vũ Thi Nhật sinh Vũ Thị Ngữ, Vũ Thị Dĩ, Vũ Trọng Biến, Vũ Trọng Chu.

Vũ Duy Hân, con cụ Vũ duy Đảng, bà cụ Phạm Thị Ất sinh Vũ Duy Ký.

Vũ Duy Thi, con Vũ Duy Vinh, bà cụ Vũ Thị Thải sinh Vũ Duy Giả, Vũ Duy Trí, Vũ Duy Nhị, Vũ Duy Giá.

HNC IV/5

Vũ Huy đĩnh, còn tên là Vũ Phương Kiền, gọi là ông Tư Kế, con trưởng cụ Vũ Phương Chăn, làm chức Quang Hiệu điện từ thừa. Bà cụ Vũ Thị Uyên sinh Vũ Thị Nhớn, Vũ Thị Bá, Vũ Phương Mật, Vũ Phương Ngụ, Vũ Phương Hoạch. Thiếp người My Nhữ sinh Vũ Phương Bồi, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Tuấn Ngạn, con thứ cụ Vũ Phương Chân, đỗ sinh đồ. Bà cụ Vũ Thị Quảng sinh vũ Tuấn Đặng, Vũ Thị Úa, Vũ Thị Đỏ. Thiếp là Vũ Thị Ruẩn.

Vũ Phương Cú, con cụ Vũ Phương Trực, cụ bà Vũ Thị Dưỡng sinh Vũ Phương Hồ.

Vũ Đăng Ngọn, con trưởng cụ Vũ Nho Giáo. Bà cụ Vũ Thị Sửu sinh Vũ Đăng Mổ, Vũ Đăng Nhâm, Vũ Thị Mỡ.

Vũ Văn Đuốc con thứ Vũ Nho Giáo.

Vũ Kiều con trưởng cụ Vũ Duy Nham.

Vũ Vấn con thứ cụ Vũ Duy Nham, sinh Vũ Duy Thảm, Vũ Duy Mãn, Vũ Duy So.

Vũ Đình tục gọi đồ Hằng, con thứ ba cụ Vũ Duy Nham. Bà  cụ Vũ Thị Hán, Vũ Thị Tề, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Dĩ, Vũ Thị Nổ, Vũ Châu.

Phục lục:

Nguyễn Thường Minh con Nguỵễn Thường Thịnh làm huyện thừa.

Phan Diễn con trưởng cụ Phạm Nghiễm.

Phạm Kính con thứ Phạm Nghiễm đỗ sinh đồ. Bà chính thất Vũ Thị Phương, sinh Phạm Lường, Phạm Chu.

Phạm Đình Lưu con cụ Vũ Đình Huân làm huyện thừa huyện Vĩnh Khang. Bà cụ Vũ Thị Vãng sinh Vũ Đình Thước, Vũ Thị Lan.

Nguyễn Công Liêu con rễ cụ Vũ Duy HÀn, đỗ hương cống làm lại bộ lang trung lấy Vũ Thị Luyện con cụ Duy HÀn sinh 1 trái, 1 gái.

Hầng Tấn con rễ cụ Phương Đề, đỗ hương cống, làm tể bộ túvụ lấy Vũ Thị Lạt con cụ Đề sinh thị Diêu.

Phạm Ngô Cầu con rễ cụ Phương Đẩu, người Đa Kiều, huyện Tống Sơn, làm đại tướng quân Đô đốc, tước tạo cơ hầu, lấy Vũ Thị Vực sinh Phạm Thị Gương lấy Nhữ Đình Tiến con cụ thượng thư Nhữ Thai Công xã Hoạch Trạch, Ngô Cầu bàng Tây Sơn rồi bị giết.

Vũ Miên con rễ cụ Phương Đẫu, người xã Xuân Lan, Lường Dài, nguyên tổ quán ở làng Mộ Trạch, lấy Vũ Thị Diễm không có con, nuôi Nguyễn Thị Đài làm con nuôi, thứ nhất Lê Thị Thanh, con gái út Lê Công Toản, con nuôi bà quận Quế, không có con, nuôi con anh Lê Văn Bàn làm con nuôi.

Nhữ Đình Khắc, con rễ cụ Nhữ Đình Nhương, lấy Vũ Thị Sửu sinh vũ Đình Kế làm cai tổng. Kế sinh Đình Thuật, Đình Hàn, Đình Thánh , Đình Linh, Đình Lãng.

Đời thứ mười năm:

Vũ Duy Đang con cụ Vũ Duy Đương làm pháp môn phù thuỷ, di cư đi Thanh Hoá.

Vũ Công Minh con trưởng Vũ Công Sứa.

Vũ Công Tiến con thứ cụ Vũ Công Sứa, đỗ sinh đồ, làm chức chỉ huy đồng tri, thăng chứa chỉ huy sứ tước tiến thọ bá, hiệu Can Hòa. Cụ bà Vương thị Ngân sinh Vũ Đăng Khoa, Vũ Đăng Khôi, Vũ Đăng đệ, Vũ Đăng Tuyển, Vũ Thị Thâu, thứ thất Đồ Thị Diễn sinh Vũ Đăng Cử, Vũ Đăng Nguyên, Vũ Đăng Cảo, Vũ Thị Mễ.

Vũ Mai Dũng, con thứ ba cụ Vũ Đăng Sưa.

Vũ Đình Thiều, con út cụ Vũ Thế Truân. Bà cụ Vũ Thị Chìu sinh Vũ Đình Thuật, Vũ Đình Ba, Vũ Đình Tư, Vũ Đình Phức, Vũ Đình Thẩn, Vũ Đình Diễn, Vũ Thị Thuân, Vũ Thị Thái.

HNC I/6

Vũ Đình Pháp, con trưởng Vũ đình Thọ, bà Vũ Thị Dĩ sinh Vũ Duy Mè. Thiếp thị Mổ sinh Vũ Duy Anh, Vũ Thị Dỉ, Vũ Thị Mổ.

Vũ Đình Chính, con thứ hai Vũ Đình Thọ, cụ bà Nguyễn Thị Nhu sinh Vũ Đình Kình, Vũ Duy Côn, Vũ Duy Nhi.

Vũ Đình Vược, con thứ ba cụ Vũ Đình Thọ. Chính thất sinh Vũ Duy Cày. Bà thiếp sinh Vũ Duy Phách, Vũ Thị Con.

Vũ Đình Tí, con thứ tư Vũ Đình Thọ, sinh Vũ Duy Lễ, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Đình Chép, con thứ năm cụ Vũ Đình Thọ, sinh Vũ Đình Xa, Vũ Đình Linh, Vũ Thị Cò, Vũ Đình Ngư.

HNC II/6

Vũ Duy Lệ, con trưởng cụ Vũ Duy Hiển, làm cai hợp sinh Vũ Duy Mỗ, Vũ Thị Xuân, Vũ Thị Loan.

Vũ duy Quyền, con thứ cụ Vũ Duy Hiển, làm khán thủ. Cụ bà Vũ Thị Con, sinh Vũ Duy Huyến, Vũ Thị Nghĩa, Vũ Thị Nhiểu, Vũ Thị Đoan.

Vũ Tích Nhưỡng, con thứ ba cụ Vũ Duy Hiểu, đỗ sinh đồ. Cụ bà Vũ Thị Khoản sinh Vũ Thị Sỏi, Vũ Duy Sương, Vũ Duy Song.

Vũ Xuân Dục, con cụ Vũ Duy Điệt, đỗ sinh đồ, cụ bà Vũ Thị Bột sinh Vũ Đình Tuyên, Vũ Lâm Mô.

Vũ Thế Nho, con cụ Vũ Duy Yến, đỗ Hương tiến, tri huyện Giao Thuỷ,hiệu Hằng Hiên. Cụ bà Phan Thị Liễu sinh Vũ Kim Huyện, Vũ Thị Thìn, Vũ Thị Đản. Vũ Phương Lan, Vũ Tông Hải viết phả họ Vũ.

Vũ Đình liêu, con cụ Vũ Đình Thái, lại tên là Huy Thao, đỗ Hương tiến, làm tri huyện Chí Linh, hiệu Khản dản. Cụ bà Vũ Thị Tố sinh Vũ Thị Bang, Vũ Thị Lưu, Vũ Thị uyến, Vũ Đình Chiểu.

Vũ Duy Hinh, con trưởng cụ Vũ Duy Tuấn, đỗ Hương tiến, làm huấn đạo phủ Gia Hưng. Cụ bà Vũ Thị Vinh sinh Vũ Hữu Hằng, Vũ Quyến Húa.

Vũ Duy Huệ, con cụ Vũ Duy Tuấn, đỗ sinh đồ, là lễ khoa đô cập sự trung. Cụ bà Vũ Thị Thân sinh Vũ Quý Dĩnh, Vũ Thị Quân, Vũ Thị Thạc. Bà kế người xã Ai Mộ huyện Gia Lâm, sinh Vũ Quý Thuận, Vũ Quý Tồn, Vũ Phú Hiên, Vũ Thị Khôi. Thiếp Vũ Thị Khuyên sinh Vũ Thị Ti, Vũ Thị Con.

Vũ Như Dực, trước tên là Như Lậu, con trưởng Vũ Bật Lại, đỗ Hương tiến, tri huyện tiên Bi. Cụ bà Phạm Thị Uyển sinh Vũ Như Hần, sinh Vũ Như Cảnh, Vũ Thị Quần, Vũ Thị Cửu, Cũ Thị Năm, Vũ Thị Bao. Thiếp thị Đoài sinh Vũ Đình Hộ.

Vũ Xuân Ôn, con thứ Vũ Bật Lại. Cụ bà Vũ Thị Nức, sinh Vũ Thị Kiều, Vũ Thị Mị.

HNC II/6

Vũ Huy Mưu, trước tên là Quý Ứng, con cụ Vũ Duy Nhẫm đỗ Hương tiến, làm tri huyện Quỳnh Côi, huyện Tùng Am. Cụ bà họ Vũ, bà thiếp họ Trần, huyện Chí Linh đều không có con. Nuôi con em gái cùng mẹ là Nguyễn Đình Đoàn làm con nuôi đổ tên là Vũ Đình Đoàn.

Vũ Huy Đức, con cụ Vũ Duy Nhưng.

Vũ Duy Ngị, con trưởng cụ Vũ Duy Chức. Cụ bà Vũ Duy Biều sinh Vũ Thị Đản.

Vũ Duy Hứa, con cụ Vũ Duy Chức, làm hữa thừa ti phong hộ. Cụ bà họ Nguyễn, sinh Vũ Duy Nghi. Thiếp Vũ Thị Đoài,người Sơn Tây sinh Vũ Thị Vị lấy người xứ Kinh bắc.

Vũ Duy Thiêm, con thứ ba cụ Vũ Duy Chức.

Vũ Duy Khoan, con cụ Vũ Duy Vọng. Cụ bà Vũ Thị Xuyến sinh Vũ Thị Mua.

Vũ Duy Viên, còn tên là Xuân Hoà, em cụ Vũ Duy Ngạn đỗ tú tài. Cụ bà Vũ Thị Ba sinh Vũ Duy hớn, Vũ Duy Nhỡ, Vũ Duy Thức, Vũ Thị Đỉ. Thiếp sinh Vũ Duy Vinh.

Vũ Trọng Nghiễn, con trưởng cụ Vũ Duy Thuần. Cụ bà Vũ Thị Hiển sinh Vũ Trọng Đản. Thiếp họ Nguyễn sinh Vũ Trọng Thiết.

Vũ Trọng Ngạc, con thứ Vũ Duy Thuần, làm thừa tự bác là Vũ Duy Trang. Cụ bà họ Vũ sinh Vũ Thị Ngạn, Vũ Trọng Thuyên, Vũ Thị Cức, Vũ Thị Chụ.

Vũ Trọng Đàm, con thứ ba cụ Vũ Duy Thuần, cụ bà họ Nguyễn, sinh Vũ Thị Mỗ, Vũ Trọng Ỷ.

Vũ Trọng Biên, con trưởng cụ Vũ Duy Hoan. Cụ bà Lê Thị Tân, sinh Vũ Trọng Biện, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Trọng Chu, con thứ cụ Vũ Duy Hoan.

Vũ Duy Ký, con út cụ Vũ Duy Hoan. Cụ bà Lê thị Mau sinh Vũ Duy Tửu, Vũ Thị Chén.

Vũ Duy Mỡ, con cụ Vũ Duy Thì, sinh 4 trai: Vũ Duy Giả, Vũ Duy Trí, Vũ Duy Nhị, Vũ Duy Giã đều vô tự.

HNC IV/6

Vũ Phương Mật, con cụ Vũ Phương Đính, lấy Vũ Thị Xiêu sinh Vũ duy Ngật, Vũ Thị Mỗ, Vũ Phương Biều, Vũ Phương Diệc.

Vũ Phương Ngụ, con thứ cụ Vũ Phương Đính. Cụ bà Vũ Thị Sính, sinh Vũ Phương Nghiêm.

Vũ Phương Hạnh, con thứ ba cụ Vũ Phương Đính lấy người Chân Định sinh 2 trai, 1 gái (không ghi tên)

Vũ Phương Bồi, con thứ tư cụ Vũ Phương Đính còn tên là Phương Khê, cụ bà Vũ Thị Nhỡ, sinh Vũ Phương Hưng, Vũ Phương Thanh, Vũ Phương Khê.

Vũ Tuần Đằng, con cụ Vũ Tuấn Ngạn đi nơi khác.

Vũ Phương Hồ, con cụ Vũ Phương Cự. Cụ bà Lê Thị Duyên sinh Vũ Thị Tri lấy Vũ Tài Hầu.

HNC V/6

Vũ Đăng Mỗ, con cụ Vũ đăng Ngạn lên ở Trạch Xá.

Vũ Đăng Bản, con trưởng cụ Vũ Đăng Vấn, làm thông lại. Cụ bà Vũ Thị Hoà sinh Vũ Duy Kỳ, Vũ Thị Ngật, thứ thất sinh Vũ Thị Ngoạn.

Vũ Thản, con thứ hai cụ Vũ Đăng Vấn.

Vũ Mản, con thứ cụ Vũ Đăng Vấn.

Vũ Xô, con thứ tư cụ Vũ Đăng Vấn.

Vũ Châu, con cụ Vũ Đình, lấy Vũ Thị, con gái Vũ Đăng Thác, phái mậu sinh Vũ Thị Mỗ lấy Vũ Duy Kính bản chi.

Phụ lục

Nguyễn Hổ, con rể cụ Vũ Duy Hậu, người xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn, lấy Vũ Thị Nấm, sinh thị Sếnh, thị Khải.

Đào Công Mỗ, con rể cụ Vũ Duy Hiểu, người xã Thanh Oai lấy Vũ Thị Dưỡng sinh Đình Yêu, Đình Tố, thị Lịch.

Đời thứ mười sáu:

Vũ Đăng Khoa, con trưởng cụ Vũ Đăng Tiến, nghề là thuốc và phù thuỷ, hiệu Phác Trực. Cụ bà Vũ Thị Đằng, sinh Vũ Thị Thành, Vũ Thị Thơi, Vũ Thị Ốc, Vũ Đăng Bích, Vũ Thị Ngữ, thiếp Vũ Thị Vân sinh Vũ Đăng Xm, Vũ Đăng Trần.

Vũ Đăng Khôi con thứ hai cụ Vũ Đăng Tiến, Hiệu Thất hiên. Cụ bà Vũ Thị Lội con cụ Vũ Đang Dự bản chi sinh thị Vị.

Vũ Đăng Cử con thứ ba cụ Vũ Đăng Tiến, hiệu Nhả thần. Cụ bà Vương Thị Tiên sinh Vũ Đăng Tể.

Vũ Đăng Đệ con thứ tư cụ Vũ Đăng Tiến. Cụ bà Vũ Thị Xuẩn sinh Vũ Đăng Xuẩn, Vũ Đăng Tư.

Vũ Đăng Nguyên con thứ năm cụ Vũ Đàng Tiến. Cụ bà Phạm Thị Phương sinh Vũ Thị Cẩn, Thị Con, Thị Đỉ.

Vũ Đăng Tuyển, con thứ sáu cụ Vũ Đăng Tiến, hiệu Cẩn Phúc. Cụ bà Vũ Thị Miên sinh vũ Thị Viên.

Vũ Thị Cảo con thứ bảy cụ Vũ Đăng Tiểu, làm phó tổng hiệu Ôn nhu. Cụ bà Vũ Thị Phán, con cụ Vũ huy Viên  phái Kỷ sinh Vũ Đăng Duyên, Vũ Đăng Mùi, Vũ Đăng Tớ, Vũ Đăng Tư, Vũ Thị Đống, Vũ Thị Lương thiếp Vũ Thị Cẩm sinh Vũ Đăng Diệp, Vũ Đăng Kim.

Vũ Đình Thuật con trưởng cụ Vũ Đình Thuần. Cụ bà Vũ Thị hài sinh Vũ Đình Chần, Vũ Thị Phiêu.

Vũ Đình Ba con thứ cụ Vũ Đình Thuần

Vũ Đình Bốn con thứ ba cụ Vũ Đình Thuần sinh Thị Mổ

Vũ Đình Phức con thứ tư cụ Vũ Đìng Thuần sinh Thị Mỗ

Vũ Đình Phản con thứ năm cụ Vũ Đình Thuần lấy Vũ Thị Vi sinh Vũ Đình Di.

Vũ Đình Diển con thứ sáu cụ Vũ Đình Thuần

HNC I/7.

Vũ Duy Mè con cụ Duy Duy Pháp, bà cụ Vũ Thị Hồi sinh Vũ Thị Mo Vũ Duy, bà thứ sinh Vũ Duy Vĩ.

Vũ Duy Anh con thứ cu Vũ Duy Pháp sinh Vũ Duy Hưu

Vũ Duy Kính con cụ Vũ Duy Thỉnh sinh Vũ Duy Tôn, Vũ Duy Thu.

Vũ Duy Côn con thứ hai cụ Vũ Duy Thỉnh lấy Thị Mổ sinh Vũ Duy Xương.

Vũ Đình Nhi con thứ ba cu Vũ Đình Thỉnh, Cụ bà Vũ Thị Nhỡ sinh Vũ Duy Phưởng.

Vũ Duy Cúc con trưởng cụ Vũ Đình Vược sinh Vũ Duy Biên.Vũ Duy Luật.

Vũ Duy Cầy con thứ cụ Vũ Đình Vược.

Vũ Duy Phách con thứ cụ Vũ Đình Vược.

Vũ Duy Lể con cụ Vũ Đình Tý, bà cụ Vũ Đình Ca sinh Vũ Đình Điều.

Vũ Duy Xa con trưởng cụ Vũ Duy Chép, cụ bà họ Nguyên sinh Vũ Duy Nông. Bà kế Vũ Thị Linh, sinh Vũ Duy Chiên, Vũ Thị Yểng, lấy Vũ Huy Ngưng Phái Kỷ.

Vũ Duy Ninh con cụ Vũ Duy Chép, bà cụ Vũ Thị Nhan sinh Vũ Duy Phu.

Vũ Duy Ngưng con thứ ba Vũ Duy Chép sinh Vũ Thị Mão, Vũ Thị Đỉ.

HNC II/7

Vũ Duy Huyên con cụ Vũ Duy Quyền, cụ bà Vũ Thị Hoà, sinh Vũ Thị Xảo, Vũ Thị Đán.

Vũ Duy Xùng con cụ Vũ Đích Nhưỡng. Cụ bà Vũ Thị An sinh Vũ Phường Để, Vũ Vũ Thị Thuyết      

     Vũ Duy Long con thứ cụ Vũ Đích Nhưỡng. cụ bà Vũ Thị Kình sinh Vũ Thị Nhớn, Vũ Duy Thường, Vũ Duy Dong, Vũ thị Nhiều, Vũ thị Đi.

Vũ Đình Tuyên con cụ Vũ Xuân Dục, cụ bà Vũ Thị Huyển con cụ Vũ Thị Viên phái Kỷ sinh Vũ Đình Hưu, Vũ Thị Giêng, Vũ Thị Duyên, Vũ Thị Chắt, Vũ Thị Khoán, Vũ Thị Khoản.

   Vũ Kim Huyền con cụ Vũ Thị Nho sinh Vũ Đình Kiểu.

Vũ Đình Thiêu con cụ Vũ Đình Liêu. Bà cụ Vũ Thị Ốc lại lấy Vũ Thị Thục sinh Vũ Đình Trưởng, Vũ Đình Dương, Vũ Thị Mị, Vũ Thị Manh.

Vũ Hữu Hằng con trưởng Vũ Duy Hinh, đỗ nho sinnh 2 cụ bà vũ Thị Quỳnh sinh Vũ Duy Hoách, Vũ Duy Nàng, Vũ Thị Nhãm.

Vũ Quyến Hưu, con thứ hai cụ vũ Duy Hinh, đỗ nho sinh, hiệu kỳ Huyền. Cụ bà họ Vũ sinh Vũ Thị Thương, Vũ Thị Khung, Vũ Duy Truyền, Vũ Thị Cảnh, Vũ Duy Tích, Vũ Duy Ủng. Thiếp Vũ Thị Huân sinh Vũ Thị Hiệp. Lại Thiếp Vũ Thị Nhi sinh Vũ Đình Mỹ.

Vũ Duy Dĩnh, con trưởng cụ Vũ Duy Huệ, đỗ sinh đồ làm lễ bộ thiểm sự, tu cống bộ phó sứ, sau vì sửa thần sắc phạm pháp phải tội. Cụ bà Nguyễn Thị Hằng sinh Vũ Thị Cày, Vũ Thị Đì.

Vũ Quý Thạc con thứ hai cụ Vũ Duy Ninh. Cụ bà Thị Thuỷ.

Vũ Quý` Thuận cont hứ ba cụ Vũ Duy Huệ. Cụ bà Vũ Thị Vênh sinh Vũ Thị Tiền, Vũ Thị Phi, Vũ Quý Thiệt.

Vũ Quý Tốn, con thứ tư cụ Vũ Duy Huệ, cụ bà Vũ Thị Cơm sinh Vũ Duy Ích, Vũ Duy Tị, Vũ Thị Châm.

Vũ Quý Hiếu, con thứ năm cụ Vũ Duy Huệ, cụ bà Vũ Thị Khắc, sinh Vũ Thị Chén, Vũ Thụ Mỡ, Thị Bán Nhớn, Bán Tíc.

Vũ Hầm lại tên là Như Trường con cụ Vũ Như Đức.

Vũ Như Cảnh con cụ Vũ Như Đức , hai anh em theo quan bình năm đại tướng đánh phương Nam, không về.

Vũ Đình Hợp, con thứ ba cụ Vũ Như Đức, đỗ sinh đồ, cụ bà Vũ Thị Bốn sinh Vũ Duy Hiến, Vũ Duy Văn, Vũ Duy tắc, Vũ Thị Con.

HNC III/7

Vũ Duy Nghi, con cụ Vũ Duy Hứa. Cụ bà Vũ Thị Nhớn si nh Vũ Duy Phả, Vũ Duy Hiếu, Vũ Duy Ve.

Vũ Duy NHớn, còn tên là Trọng Tư, con trưởng cụ Vũ Duy Viên. Cụ bà Vũ Thị Nhỡ.

Vũ Duy Thức, còn tên là Duy Sửa, con thứ ba cụ Vũ Duy Viên, đỗ cử nhân, làm hàn lâm viện biểu tu, hiệu Đường Phu. Cụ bà họ Vũ sinh Vũ Hữu Đảng.

Vũ Duy Nhữ, còn tên là Hữu Nghĩa, con thứ hai cụ Vũ Duy Viên, đỗ tú tài, cụ bà Nguyễn Thị Thi, sinh Vũ Duy Su và thị Mỗ.

Vũ Duy Vinh, con thứ tư cụ Vũ Duy Viên.

Vũ Trọng Đản, con trưởng cụ Vũ Trọng Hiển sinh Vũ Thị Bén, Vũ Thị Biên.

Vũ Trọng Thuyết, con thứ cụ Vũ Trọng Hiển, cụ bà họ Nguyễn sinh Vũ Trọng Thí, Vũ Trọng Sầu, Vũ Thị Tha.

Vũ Duy Thuyên, con trưởng cụ Vũ Trọng Ngạc bà cụ Vũ Thị miện, sinh Vũ Thị Bưởi.

Vũ Trọng Y, con cụ Vũ Trọng đàm. Cụ bà họ Nguyễn sinh Vũ Thị Út. Thứ thất Vũ Thị Nhớn sinh Vũ Trọng Hiếu, Vũ thị Mỗ.

Vũ Trọng Biên, con cụ Vũ Trọng Biên sinh Vũ Thị Canh.

Vũ Duy Tửu, con cụ Vũ Duy Ký, cụ bà Vũ Thị Mỹ, sinh Vũ Duy Tuý.

HNC IV/7

Vũ Duy Ngật, con cụ Vũ Phương Mật, cụ bà Vũ Thị Mỗ sinh 1 con gái.

Vũ Phương Biều, con thứ hai cụ Vũ Phương Mật. Cụ bà Vũ Thị Điệc, sinh Vũ Thị Mỡ, Vũ Thị Bén.

Vũ Phương Riệc, con thứ ba cụ Vũ Phương mật. Cụ bà Vũ Thị Mỗ sinh Vũ Phương Thi, Vũ Phương Biện, Vũ phương Kiều. Thiếp sinh Vũ Phương Điều, Vũ Thị Cấn.

Vũ Phương Nhiệm, còn tên là Diễn, con cụ Vũ Phương U.

Vũ Phương Hưng, con cụ Vũ Phương Bồi, sinh Vũ Thị Mô, Vũ Phương Thành.

Phụ lục:

Nhữ Công Tứ con rể cụ Vũ Thế Nho người Hoạch Trạch.

Vũ đình Ôn con rể Vũ Đình Liêu, người xã Thần Khê, đỗ hương cống, tri huyện Thần Khê.

Trần Công con rể cụ Vũ Phương Hồ, người tỉnh Hà Tiên. Tước tuyến tài hầu, lấy Vũ Thị Tứ con thứ thất Trần Nghi Đông thuộc tịch xá nhà. Nghi Đống lấy con gái Vũ Huy Huệ, bản chi, gốc tích là con cháu Trịnh Tính Hà Tiên.

Đời thứ mười bảy: Vũ đăng Bích con trưởng Vũ Đăng Khoa. Cụ bà Vũ Thị Mỗi sinh Vũ Thị Đỉ, Vũ Đăng Tích, Vũ Đăng Lễ, Vũ Đăng Khuê. Bà thiếp Nhữ Thị Đoàn sinh Vũ Thị Biểu Nhớn Vũ Đăng Chức, Vũ Thị Biếu con.

Vũ Đăng Xầm con thứ hai Vũ Đăng Khoa. Bà cụ Nguyễn Thị Lịch sinh Vũ Đình Lục.

Vũ Đình Thẩm con thứ ba cụ Vũ Đăng Khoa, cụ bà Vũ Thị Khiết sinh Vũ Đăng Văn.

Vũ Đăng Tể con cụ Vũ Đăng Cử. Cụ bà Vũ Thị Công sinh Vũ Đăng Trình, Vũ Đăng Tào. Vũ Thị Đơ.

Vũ Đăng Xuân con trưởng Vũ đăng Đệ, cụ bà Vũ Thị Nhâm, sinh Vũ Đăng Am, Vũ Thị Nhớn.

Vũ Đăng Tựu con thứ Vũ Đăng Đệ, cụ bà Vũ Thị Cày sinhVũ Đăng Đặc, Vũ Đăgn Ba, Vũ Thị Cơm.

Vũ Đăng Duyên con trưởng Vũ Đăng Cảo. Cụ bà Nguyễn Thị Lâm, sinh Vũ Đăng Châu.

Vũ Đăng Miên con thứ hai Vũ Đăng Cảo. Cụ bà Vũ Thị Toàn, sinh Vũ Thị Thìn.

Vũ Đăng Tứ con thứ ba Vũ Đăng Cảo. Cụ bà Vũ Thị Hân, sinh Vũ Thị Để, Vũ Đăng Kết, Vũ Đăng Trình, Vũ Thị Mổ.

Vũ Đăng Tư không có con (con cụ Vũ Đăng Cảo).

Vũ Đăng Diệp không có con (con cụ Vũ Đăng Cảo).

Vũ Đăng Kim không có con (con cụ Vũ Đăng Cảo).

Vũ Đăng Trần con cụ Vũ Đăng Thuật.

Vũ Đình Di con cụ Vũ Đình Thân, bà cụ họ Vũ sinh Vũ Đình Duy, Vũ Thị Một.

HNC I/8

Vũ Duy Vĩ con cụ Vũ Duy Mè.

Vũ Duy Hảo con cụ Vũ Duy Hào.

Vũ Duy Tôn con trưởng Vũ Duy Kình. Cụ bà Vũ Thị Su con cụ Vũ Huy Rựy, phái Kỷ, sinh Vũ Duy Nhu. Vũ Thị Cố lấy Vũ Huy Lãng, Vũ Thị Con lấy Vũ Đăng Quát, phái Mậu.

Vũ Duy Thu con thứ cụ Vũ Duy Kình. Cụ bà Lê thị Nhung sinh Vũ Duy Dư, Vũ Duy Lăng. Bà thiếp ở Lăng Tài.

Vũ Duy Xương con ông Vũ Duy Côn. Cụ bà họ Vũ, con gái Vũ Huy Vĩnh phái Kỷ, sinh Vũ Thị Sen lấy Vũ Huy Y phái Kỷ, Vũ Thị Xen con lấy Vũ Trọng Đính bản chi, Vũ Duy Ngạnh.

Vũ Duy Phường con ông Vũ Duy Nhi, cụ bà con gái Vũ Đình Thanh chi 3, sinh Vũ Thị Trai, Vũ Thị Hến lấy Vũ Xuân Bì phái Đinh, Vũ Thị Don lấy Vũ Huy Nhạn, phái Kỷ; Vũ Duy Ốc.

Vũ Duy Biên con trưởng Vũ Duy Cúc.

Vũ Duy Luật con thứ Vũ Duy Cúc. Bà là Vũ Thị Chiên con gái Vũ Đình Kiện chi 3.

Vũ Duy Điều con Vũ Duy Lê. Cụ bà Vũ Thị Nhớn, con Vũ Đăng Toản, phái Mậu, sinh Vũ Duy Ngẫu. Bà thứ Vũ Thị Ti, con Vũ Huy Phố phái Kỷ sinh 1 gái lấy Vũ Đăng Nhai chi 2, rồi lấy Hà Văn Thiều ở làng Hà Tiên, sinh 2 gái về ở làng Mộ Trạch.

Vũ Duy Nông con trưởng Vũ Duy Sa, cụ bà Vũ Thị Hoa sinh Vũ Duy Bản.

Vũ Duy Chiêu son Vũ Duy Sa. Cụ bà Vũ Thị Láng, phái Mậu.

Vũ Duy Phù con Vũ Duy Sinh sinh Vũ Duy Tiên, Vũ Duy Tình, Vũ Tý Nhớn, Vũ Tý Con, Vũ Thị Gái con, gái Nhớn.

HNC II/8

Vũ Phương Đề con cụ Vũ Duy Xàng. Cụ bà Vũ Thị Đa.

Vũ Duy Nhớn con trưởng Vũ Duy Sang. Bà cụ họ Vũ, con gái Vũ Công Dương phái Đinh.

Vũ Duy Thường con thứ hai Vũ Duy Sang. Cụ bà Vũ Thị Ty con gái Vũ Huy Khanh, phái Kỷ sinh Vũ Duy Chế, Vũ Duy Độ.

Vũ Đình Hưu con Vũ Đình Tuyên. Cụ bà Vũ Thị Sốc, sinh Vũ Thị Toàn, Vũ Thị Đỉnh, Vũ Hữu Thư, Vũ Thị Hiệu, Vũ Thị Hường. Bà thiếp sinh Vũ Đình Mè.

Vũ Đình Kiển con Vũ Kim Huyến. Cụ bà Vũ Thị Cúc sinh Vũ Đình Thuyên.

Vũ Đình Trưởng con trưởng Vũ đình Triệu, đỗ tú tài. Cụ bà Vũ Thị Roi, sinh Vũ Đình Lênh. Thiếp sinh Vũ Thị Nổ.

Vũ Đình Dương con thứ Vũ Đình Triệu đỗ 2 khoa tú tài. Cụ bà Vũ Thị Sắn, sinh Vũ Đình Sang. Thiếp sinh Vũ Duy Mường.

Vũ Duy Hoạch con trưởng Vũ Hữu Hằng.

Vũ Duy Năng lại tên Vũ Huy Kỳ con thứ 2, Vũ Hữu Hằng, đỗ tú tài. Bà cụ họ Nhữ sinh Vũ Duy Gián, Vũ Thị Nhiên. Bà kế Vũ Thị Oanh sinh Vũ Thị Mổ, Vũ Thư Chúc,  Vũ Duy Toàn, Vũ Duy Quản.

Vũ Duy Bản con thứ ba Vũ Duy Hằng. Cụ bà Vũ Thị Chất sinh Vũ Duy Thịnh.

Vũ Duy Truyền con trưởng Vũ Quyến Hựu. Cụ bà họ Nhữ sinh Vũ Thị Hạnh. Thứ thất Nguyễn thị Hai sinh Vũ Duy Thừa. Vũ Duy Thiếu, Vũ duy Dao.

Vũ Huy Tích con thứ Vũ Quyến Hựu, đỗ cử nhân tri huyện hàm Yên, hiệu Mai Hiên. Cụ bà Vũ Thị Ngôn, sinh Vũ Thị Cừ, Vũ Huy Quý, Vũ Huy Trọng. Thiếp Thị Nhuận, sinh Vũ Thị Chín.

Vũ Duy Ưng con thứ ba cụ Vũ Quyến Hựu. Cụ bà Vũ Thị Thoán sinh Vũ Thị Miện, Vũ Thị Luyến.

Vũ Đình Mỹ con thứ tư cụ Vũ Quyến Hựu. Cụ bà Vũ Thị Nhưỡng. Thiếp thị Nhi, sinh Vũ Thị Lường, Vũ Thị Vân.

Vũ Quý Kiệt con Vũ Quý Thuận, sinh Vũ Duy Dư, Vũ Duy Tu, Vũ Thị Khuyên.

Vũ Duy Ích con Vũ Quý Tổn sinh Vũ Duy Lợi.

Vũ Duy Tụ con thứ Vũ Quý Tốn. Cụ bà Vũ thị Nhở sinh Vũ Duy Ngưu.

Vũ Duy Hiếu con trưởng Vũ Đình Hợp, đỗ tú tài, tri huyện Trùng Khánh, sinh Vũ Thị Mổ, Vũ Duy Đề, Vũ Thị Mổ.

Vũ Duy Văn con thứ Vũ Đình Hợp cụ bà Vũ Thị Để sinh Vũ Duy Bể, Vũ Duy Hàm.

Vũ Duy Tắccon thứ ba Vũ Đình Hợp sinh Vũ Duy Chất.

HNC III/8

Vũ Duy Phả con Vũ Duy Nghi vô tự.

Vũ Duy Phức con Vũ Duy Nghi vô tự.

Vũ Duy Vê con Vũ Duy Nghi vô tự.

Vũ Trọng Lâm con cụ Vũ hữu Nhỡ, cụ bà họ Vũ sinh Vũ Trọng Đoá, Vũ Trọng Đoan, Vũ Trọng Đế, Đế con.

Vũ Hữu Đảng con cụ Vũ Hữu Thức cụ bà Vũ Thị Nhiên sinh Vũ Thị Nhớn, Vũ Đình Dán. Vũ Thị Cỏn lấy tú tài Vũ Đình Lương ( có cụ là Vũ Mạo) người xã Phú Khê, Vũ Thị Hoa lấy Vũ Duy Nông bản chi. Vũ Thị Phan lấy Vũ Đình Quynh, chi 3, Vũ Thị Phôi lấy Vũ Huy Tường phái Kỷ.

Vũ Trọng Thế con Vũ trọng Thiết cụ bà Vũ Thị Nhớn, sinh Vũ Thị Thảo lấy Vũ Đăng Khiêm, phái Mậu, thứ thất Vũ Thị Nghi sinh Vũ Trọng Trạch, Vũ Trọng Chiêm.

Vũ Trọng Sầu con thứ Vũ Trọng Thế, cụ bà Vũ Thị Nội sinh Vũ Thị Sẹo, Vũ Trọng Hứa.

Vũ Trọng Hiến con cụ Vũ Trọng Ý, cụ bà Vũ Thị Ngắt sinh Vũ Trọng Tước.

Vũ Duy Tuý con cụ Vũ Duy Tẩu.

HNC IV/8

Vũ Phương Thị con cụ Vũ Phương Diệc, cụ bà họ Vũ sinh Vũ Phương Trung, Vũ Thị Nghỉ, Vũ Thị Con, Vũ Phương Kham, Vũ Phương Nghi.

Vũ Phương Biện con thứ Vũ Phương Diệc, làm phó tổng, bà cụ họ Vũ sinh Vũ Phương Thuyết. Thứ thất Vũ Thị Mì sinh Vũ Phương Truân, Vũ Phương Huân, Vũ Phương Cầu, Vũ Thị Binh lấy Vũ Huy Kỳ, phái Kỷ.

Vũ Phương Kiều con thứ 3 cụ Vũ Phương Diệc, cụ bà họ Vũ sinh Vũ Phương Trưng. Thứ thất là thị Mỳ sinh 1 gái Vũ Duy Điều con thứ tư cụ Vũ Phương Diệc. Cụ bà Vũ Thị Tý sinh Vũ Thị Nghiêm lấy Vũ Đăng Kiện phái Mậu . Vũ Thị Nhỡ, Vũ Phương Khoa.

Chú ý: Con cháu hậu ngũ chi thứ V tức là con cháu Vũ Cầu Hối, đến đời thứ 16 họ Vũ Mộ Trạch, tức đời thứ 7 của hậu ngũ chi thứ V lên ở làng Trạch xá, tức làng Mạc cả, không còn ai ở làng Mộ Trạch.

Đời thứ mười tám;

Vũ Đăng Tích con cụ Vũ Đăng Bích.

Vũ Đăng Lễ, con thứ cụ Vũ Đăng Bích.

Vũ Đăng Khuê con thứ ba cụ Vũ Đăng Bích. Cụ bà họ Vũ  sinh Vũ Thị Hờn lấy Vũ Đình Lểnh bản chi lấy 2 thiếp sinh hai gái lấy chồng người Nam sang.

Vũ Đăng Thương con thứ tư cụ Vũ Đăng Bích, làm chảnh tổng, thưởng chánh thấtt phẩm thiên hộ. Cụ bà Vũ Thị Mừng con gái Vũ Huy Thẩm phái Kỷ sinh Vũ Thị Ve lấy Vũ Đăng Hoàng phái mậu, Vũ Thị Ấu lấy Vũ Duy Đan phái Kỷ, Thị Mở lấy Vũ Huy Lang phái Kỷ, Vũ Thị Cơn lấy lẻ Lê Duy Duật thiếp người Trạch Cá, thiếp người tuyển cử sinh Vũ Đình Diển.

Vũ Đang Lục con ông Vũ Đăng Sầm, cụ bà Vũ Thị Áp sinh Vũ Thị Cày lấy Vũ Xuân Sơ phái đinh.

Vũ Đăng Văn con Vũ Đăng Thẩm, sinh Vũ Thị Sáng.

Vũ Đăng Trỉnh con Vũ Đăng Tể, bà cụ Lê thị Mão sinh Vũ Đăng Tăng.

Vũ Đăng Tào con thứ Vũ Đăng Tể cụ bà Vũ Thị Đỗ.

Vũ Đăng Ấm, con Vũ Đăng Xuân, lại tên là Quang, cụ bà họ Nguyễn, người tàu, sinh 1 gái, thiếo sinh Vũ Đăng Tuy.

Vũ Đăng Đặc con cụ Vũ Đăng Tửu

Vũ Đăng Ba, con cụ Vũ Đăng Tửu

Vũ Đăng Chân, con Vũ Đăng Duyên. Cụ bà Nhữ Thị Én sinh Vũ Đăng Yêm, Vũ Đăng Thỏ, Vũ Thị Nhớn, Vũ Thị Tố.

Vũ Đăng Kết con trưởng Vũ Đăng Tố sinh Vũ Thị Thôn.

Vũ Đăng Thính con thứ Vũ Đăng tố sinh Vũ Thị Bọt, Vũ Thị Bê.

Vũ Phương Duy, con Vũ Đinh Di sinh Vũ Đinh tú, Vũ Đinh Thống, Vũ Đình Nạp.

HNC I/9.

 Vũ Duy Nhu con cụ Vũ Duy tôn. Cụ bà Vũ Thị Tục sinh Vũ Duy Phiên, Vũ Duy hợp, Vũ Duy Hanh.

Vũ Duy Dư, con trưởng cụ Vũ Duy Thu sinh Vũ Duy Phụ.

Vũ Duy Năng con thứ cụ Vũ Duy Thụ sinh Vũ Duy Lịch.

Vũ Duy Chinh, con thứ ba cụ Vũ Duy Thu sinh Vũ Duy Chín.

Vũ Duy Ngạnh con thứ cụ Vũ Duy Xương. Cụ bà Vũ Thị Lựu phái Kỷ, sinh Vũ Thị Ngạc lấy chồng người làng Trạch Xá , Vũ Duy Ngọc, Vũ Duy Nguyện. Bà kế sinh Vũ Duy Nguộn.

Vũ Duy Ốc con Vũ Duy Phường, sinh Vũ Duy Ích, Vũ Duy Muôn, Vũ Duy Cao,Vũ Duy Tứ, Vũ Duy Kiêm.

Vũ Duy Ngẫu, con cụ Vũ Duy Điếu. Cụ bà họ Vũ sinh Vũ Duy Thiện, Vũ Duy Cổn và 4 con gái.

Vũ Duy Bản, con cụ Vũ Duy Nông. Cụ bà họ Vũ sinh Vũ Duy Công. Vũ Duy Linh, Vũ Duy Sau, Vũ Duy Văn.

Vũ Duy Tiểu, con cụ Vũ Duy Phú di cư vào Nam.

Vũ Duy Trình , con cụ Vũ Duy Phú di cư vào Nam.

Vũ Duy Nhớn, con cụ Vũ Duy Phú di cư vào nam.

Vũ Duy Con, con cụ Vũ Duy Phú có con là Vũ Duy Quý.

HNC II/9.

Vũ Duy Thế, con trưởng Vũ Duy Thường.

Vũ Duy Độ, con thứ Vũ Duy Thường sinh Vũ Duy Lang, Vũ Duy thịnh, Vũ Duy Truyên.

Vũ Huy Thủ, con trưởng Vũ Đình Hưu lại tên là Thanh đỗ tú tài.

Vũ Đình Mè, con thứ Vũ Đình Hưu sinh Vũ Đình Châm.

Vũ Đình Lệnh, con cụ Vũ Đình Trưởng. Cụ bà Vũ Thị Hờn sinh Vũ Đình Hôi, Vũ Thị Nhớn, Thị Công lấy Vũ Đình Thống chi 3. Thiếp sinh Vũ Đình Phu di cư về quê mẹ ở Thái Bình.

Vũ Duy Sáng tục gọi Lý Sồng, con trưởng Vũ Duy Dương. Cụ bà Vũ thị Con sinh Vũ Duy hỉ, Vũ Duy Hoan, Vũ Duty Yết.

Vũ Duy Mừng, con thứ Vũ Duy Dương, cụ bà là con Vũ Duy Văn.

Vũ Duy Giám, còn tên là Duy Đản, con Vũ Duy Năng, đỗ tú tài, hiệu Chu Thông. Bà cụ Vũ Thị Đơ con gái Vũ Luyện chi 2, sinh Vũ Thị Giầu lớn, Giầu con, Vũ Huy Hành, Vũ Huy Ngân.

Vũ Huy Toản con Vũ Huy Năng.

Vũ Huy Quản, con Vũ Huy Năng.

Vũ Duy Thịnh, con Vũ Duy Bản sinh Vũ Duy Tuynh.

Vũ Duy Thừa , con trưởng Vũ Duy Truyền sinh Vũ Duy Tể.

Vũ Duy Thiệu, con thứ Vũ Duy Truyền sinh Vũ Duy Hệ

Vũ Duy Đào, con thứ ba Vũ Duy Truyền, đỗ tú tài sinh Vũ Duy Tập, Vũ Duy Hi,Vũ Thị Kỉnh.

Vũ Duy Quý, con trưởng Vũ Duy Tích, lại tên là Diêụ, đỗ hai khoa tú tài, hiệu Lương Phu. Cụ bà Vũ Thị Quyên, con gái tham trị Vụ Tuấn sinh Vũ Thị Nư lấy bách hộ Hoàng Văn Lợi xã Trinh nữ, Vũ Huy Đăng, Vũ Huy Dao, Vũ Huy Hỗ.

Vũ Huy trọng con thứ Vũ Huy Tích, cụ bà Vũ Thị hiếu sinh Vũ thị Tảo.

Vũ Đình Nhượng, con Vũ Đình Mỹ, cụ bà Phạm Thị Đề người Hà Xá, sinh Vũ Thị Rào. Thiếp sinh Vũ Thị Dậu.

Vũ Huy Dư, con cụ Vũ Duy Hiệt.

Vũ Duy Tu con cụ Vũ Duy Hiệt.

Vũ Duy Lợi, con Vũ Duy Ích. Cụ bà họ Nguyễn, người họ Tôn Thất, tỉnh Thanh Hoá, sinh Vũ Thị Rúc lấy Vũ Huy Phảm phái Kỷ, Vũ Thị Nuôi lấy Vũ Huy Kim phái Kỷ.

Vũ Duy Đề, con Vũ Duy Hiếu. Bà cụ thuộc chi 2, sinh Vũ Duy Tạc, Vũ Duy Mạch, Vũ Duy Tinh, Vũ Duy Mịch, Vũ Duy Nũng. 1 con gái lấy Vũ Nhật Chi, phái Tân, 1 con gái lấy Vũ Huy Vế, phái Kỷ.

Vũ Duy Bể, con Vũ Duy Văn, sinh Vũ Duy Phòng, Vũ Duy A, Vũ Duy Hậu.

Vũ Khắc Thành, còn tên là Vũ Duy Thăng, Vũ Khắc Hán, con thứ Vũ Duy Văn, đỗ 2 khoa tú tài. Cụ bà Vũ Thị Ngào, con giá Vũ Duy Cường, phía Kỷ, sinh Vũ Duy Giảng, Vũ Duy Du, Vũ Duy Dịch, Vũ Duy Tám, Vũ Thị Nhớn lấy Vũ Huy Thể, phái Kỷ, Vũ Thị Xê lấy Vũ Huy Dũng phái Kỷ, Vũ Thị Dực lấy Vũ Dao thôn Tân Hưng, Vũ Thị Dao lấy Vũ Huy Trịnh phái Kỷ.

Vũ Duy Thất, con Vũ Duy tắc, bà cụ họ Vũ sinh Vũ Duy Yến, Vũ Thị Ấm.

HNC III/9

Vũ Trọng Đoá, con Vũ Trọng Tiêm, bà cụ họ Nguyễn người xã An Lâu, huyện Thanh Miện, sinh Vũ Thị Nhớn lấy Vũ Huy Phòng phái Kỷ, Vũ Trọng  Xướng, Vũ Trọng Cân, Vũ Thị Nhớn lấy Vũ Đăng Toại phái mậu.

Vũ Trọng Đoan, con thứ Vũ Trọng Tiêm, bà cụ Vũ Huy Nga, phái Kỷ, sinh Vũ Trọng Đính, 1 gái lấy Vũ Duy Kỹ bản phái.

Vũ Đình Dán, con Vũ Hữu Đảng, cụ bà Vũ Thị Chắt, con gái Vũ Huy Hành, bản chi, sinh Vũ Thị Sinh lấy Vũ Thế Tứ, xã Phú Khê, lại lấy Vũ Đình Cự, chi 3, Vũ Đình Huệ, Vũ Thị Hoài lấy Vũ Xuân Dũng, phái đinh, Vũ Thị Bẩy lấy Vũ Văn Giá xã Tân Hưng, thiếp Vũ Thị khiếu sinh con gái lấy Vũ Đăng Thẳng chi 2, Vũ Thị Hào lấy Vũ Đăng Lưu phái mậu, Vũ Đình Nhận.

Vũ Trọng trạch, con Vũ Trọng Thí, di cư đi Lăng Tài.

Vũ Trọng Hứa, con Vũ Trọng Sầu di cư đi Đại Bái.

HNC IV/9

Vũ Phương Thưng, con trưởng Vũ Phương Thi di cư đi Tầm Giàng.

Vũ Phương Kham, con Vũ Phương Thi, sinh Vũ Phương Pha, Vũ Phương Phách, Vũ Thị Tô lấy ông Lý Giải.

Vũ Phương Thuyết, con trưởnmg Vũ Phương Biện. Cụ bà là con gái Vũ Khắc Bình chi 3 sinh Vũ Phương Mậu.

Vũ phương Truân, con thứ hai cụ Vũ Phương Biện. Cụ bà Vũ Thị Nấu, con gái Vũ Đình Ninh, chi 3 sinh Vũ Phương Hạnh, Vũ Thị Bi.

Vũ Phương Huân, con thứ ba cụ Vũ Phương Biện. Cụ bà Vũ Thị Bi, con gái Vũ Đăng Hoành phái mậu, sinh Vũ Phương Huy, Vũ Phương Hoa, 1 gái lấy Vũ Huy Ngoan phái Kỷ, 1 gái lấy Vũ Huy A phái Kỷ, 1 gái lấy Vũ Đăng Biến thôn hạ, 1 gái lấy Vũ Huy Kỷ bản chi.

Vũ Phương Cầu, con thứ tư cụ Vũ Phương Biện, cụ bà Vũ Thị Đỏ, con gái Vũ Duy Điều xã Vinh Lại, sinh Vũ Phương Lâm, Vũ Thị Lan lấy chồng ở Phụng Viên, Vũ Thị Xuyến lấy Vũ Khắc Vọng bản chi.

Vũ Phương Từng, con Vũ Phương Kiều. Cụ bà người Phù Cừ, sinh Vũ Phương Dung, Vũ Phương Dong, Vũ Thị Dụng lấy Vũ Đăng Thấu phái mậu, Vũ Thị Dung lấy Vũ Huy Nghiễm phái Kỷ, Vũ Thị Cánh Nhớn, Cánh Con.

Vũ Phương Khoa, con Vũ Phương Điền.

Đời thứ mười chín:

Vũ Đình Diễm, con Vũ Đình Chương. Bà cụ Vũ Thị Huyền phái mậu sinh vũ Đình Đản, Vũ Đình Uyên, Vũ Đình Du, Vũ Đình Phác, Vũ Đình Lưu, Vũ Thị dang. Thiếp Vũ Thị Huân, con gái Vũ Huy Hỗ bản chi, sinh Vũ Ngọc Chu, Vũ Ngọc Quốc.

Vũ Đăng Tăng, con Vũ Đăng Trình sinh Vũ Đăng vào, Vũ Đăng Tì, Vũ Đăng Bà, Vũ Đăng Cát, Vũ Đăng Đặt.

Vũ Đăng Tuy, con Vũ Đăng Ấm. Bà cụ họ Lê, sinh Vũ Thị Nụ lấy Vũ Huy Lộc phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Tượng.

Vũ Đăng Yến, con trưởng Vũ Đăng Châu.

Vũ Đăng Thỏ, con thứ Vũ Đăng Châu sinh Vũ Đăng Duyệt, làm đô lại di cư châu Thất Khê.

Vũ Đình Tư, con Vũ Đình Duy sinh Vũ Thị Đào, Vũ Thị Mận.

Vũ Đình Thống, con thứ Vũ Đình Duy sinh Vũ Đình Thếnh.

Vũ Đình Nạp, con thứ ba Vũ Đình Duy.

HNC I/10

Vũ Duy Phiên, con trưởng Vũ Duy Nhụ, di cư đi Hà Nội.

Vũ Mạnh Hợp, con thứ cụ Vũ duy Nhụ, di cư đi thị xã Hải Dương.

Vũ Duy Hạnh, con thứ ba cụ Vũ Duy Nhụ di cư Kẻ Sặt.

Vũ Duy Phu, con cụ Vũ Duy Giá sinh Vũ Duy Trách. Vũ Duy Giỏi.

Vũ Duy Lịch, con cụ Vũ Duy Năng.

Vũ Duy Ngọc, con cụ Vũ Duy Ngạnh, giáo viên cấp I trường Tân Hồng, lấy con Vũ Đăng Phan, phái mậu sinh Vũ Duy Lận, Vũ Duy Luyện.

Vũ Duy Nguyện, con cụ Vũ Duy Ngạnh lấy vợ người Thanh Miền, đại học tổng hợp sinh đại tá công an.

Vũ Duy Nguôn, con cụ Vũ Duy Ngạnh. Đại học sư phạm, giáo viên trường cấp III, thị xã Hải Dương, lấy Vũ Thị Phượng trung cấp, làm ở ngoại thương sinh Vũ Duy Dương.

Vũ Duy Ích, con cụ Vũ Duy Ốc di cư đi Hà Nội.

Vũ Duy Muôn, con thứ hai cụ Vũ Duy Ốc,4 con.

Vũ Duy Cao, tốt nghiệp đại học di cư đi Hà Nội.

Vũ Duy Tư, di cư thị xã Hải Dương.

Vũ Duy Khiêm, bác sĩ, di cư đi thị xã Hải Dương.

Vũ Duy Toàn, di cư thị xã Hải Dương.

Vũ Duy Thiện, con cụ Vũ Duy Ngầu, cử nhân di cư đi Hà Nội.

Vũ Duy Cồn, con cụ Vũ Duy Ngầu, kỹ sư trắc lương di cư thị xã Hải Dương.

Vũ Duy Công, con cụ Vũ Duy Bẳn.

Vũ Duy Sinh, con cụ Vũ Duy Bẳn.

Vũ Duy San, con cụ Vũ Duy Bẳn.

Vũ Duy Văn, con cụ Vũ Duy Bẳn.

Vũ Duy Quý, con cụ Tý con.

Vũ Duy Nang, con trưởng cụ Vũ Duy Đội, cụ bà họ Lê sinh Vũ Huy Thước.

Vũ Duy Chuyên, con thứ Vũ Duy Độ. Bà cụ họ Lê sinh Vũ Thị Đông.

Vũ Duy Thâm, con Vũ Duy Me. Bà cụ Vũ Thị Seo sinh vũ Duy Thu, Vũ Duy Bách, Vũ Duy tân, Vũ Thị Xuồng, Vũ Thị Luống.

Vũ Duy Phu, con thứ Vũ Duy Lênh sang ở Phù Dực Thái Bình gọi là Chùm Phu sinh Vũ Duy Trung, Vũ Duy Nghĩa, Vũ Duy Đức, Vũ Duy Tín, Vũ Duy Kính.

Vũ Duy Hỉ, con cụ Vũ Duy Sáng.

Vũ Duy Hoan, con thứ Vũ Duy Sáng sinh Vũ Duy Hùng, Vũ Thị Chai lấy Nguyễn Văn Cát.

Vũ Duy Yết, con thứ ba cụ Vũ Duy Láng, cụ bà con cụ Vũ Đình Sĩ chi 3 sinh Vũ Duy Tiệp, Vũ Duy Kỹ.

Vũ Duy Hành, con trưởng Vũ Duy Dám, cụ bà con Vũ Huy Hỗ phái Kỷ, sinh Vũ Duy Chắt lấy Vũ Duy Dán bản chi Vũ Thị Phấn lấy Vũ Huy Xuân phái Kỷ. Thiếp Vũ Thị Quấn.

Vũ Huy Ngận, con thứ Vũ Huy Dám, cụ bà Vũ Thị Bồng con gái Vũ Đăng Thúc chi 2, sinh Vũ Huy Lang, Vũ Huy Dư và 1 gái.

Vũ Duy Tuynh, con Vũ Duy Thịnh, cụ bà họ Nguyễn sinh Vũ Huy Truy, Vũ Duy Triệu, Vũ Thị Sao lấy Vũ Huy Liệu phái Kỷ.

Vũ Duy Tỷ, con cụ Vũ Duy Thừa, bà cụ Vũ Thị Pha, con gái Vũ Trọng Thiết, bản chi sinh Vũ Duy Ổi.

Vũ Duy Hệ, con cụ Vũ Duy Thiệu. Bà cụ Vũ Thị Cấu con gái Vũ Phương Dịêc bản chi sinh Vũ Duy Thóc.

Vũ Duy Tập, con trưởng Vũ Duy Đạo, lấy con gái cai tổng Đố Xá, Xắc Khê, phủ Nam Sách, sinh Vũ Thị Học, Vũ Thị Hạch.

Vũ Duy Hi, con thứ cụ Vũ Duy Đạo.

Vũ Huy Đăng, con trưởng Vũ Huy Quý, bà Vũ Thị Liền, con gái cai tổng Vũ Tấm, xã Phụng Viên sinh Vũ Thị Đàm, Vũ Thị Đỗ.

Vũ Huy Giao, con thứ Vũ Huy Quý. BÀ cụ Nguyễn Phương Giàng con gái tri phủ Nguyễn Khắc Phả, xã Hoành Bổ, Hưng Yên.

Vũ Huy Hổ, lại tên là Huy Doanh, con thứ ba cụ Vũ Huy Quý, cụ bà Vũ thị Đụn, phái mậu, sinh Vũ Huy Bân, Vũ Thị Nấm  lấy Vũ Huy Thú phái Kỷ, Vũ Thị Rểu lấy Vũ Đăng Hán phái mậu, Vũ Thị Bích lấy Vũ Huy Lục phái Kỷ, Thị Huân lấy lẽ Vũ Đình Diễm.

Vũ Duy Tạc, con trưởng Vũ Duy Đề, cụ bà họ Nhữ sinh Vũ Huy Sắc.

Vũ Duy Mạch, con thứ hai Vũ Duy Đề, cụ bà con Vũ Phương Đề bản chi.

Vũ Duy Tỉnh, con thứ ba Vũ Duy Đề, bà cụ con Vũ Duy Nga phái Kỷ, sinh Vũ Duy Cấp.

Vũ Duy Mịch , con thứ tư Vũ Duy Đề, bà cụ con Vũ Duy Thuần.

Vũ Duy Nũng, con thứ năm Vũ Duy Đề, cụ bà con Vũ Duy Đinh chi 2, sinh Vũ Duy Năng, Vũ Duy Thuỳ, Vũ Duy Phác.

Vũ Duy Phòng, con Vũ Duy Bế.

Vũ Duy Vi, con Vũ Duy Bế.

Vũ Duy Hấu, con thứ ba Vũ Duy Bế, cụ bà là con Vũ Huy Kiềm phái Kỷ sinh Vũ Huy Dừa, Vũ Huy Dọc.

Vũ Duy Giảng, con Vũ Khắc Thành, cụ bà Vũ Thị Ngổ con gái nuôi Vũ Duy Dáng bản chi sinh Vũ Duy Lểnh, Vũ Duy Kềnh. Vũ Duy Ràng tức Vị, Vũ Duy Bồi, Vũ Duy Tiêu.

Vũ Duy Dụ, con thứ hai Vũ Khắc Thành, lấy vợ người xá Thời Cử, sinh 1 gái lấy người Thời Cử. Biệt Vãng Nam Kỳ.

Vũ Duy Tám, con thứ ba Vũ Khắc Thành, bà cụ Vũ Thị Con, con gái Vũ Đăng Đại phái mậu sinh Vũ Duy Nha và 2 gái.

Vũ Duy Yến con Vũ Duy Chất.

HIVC III/10

Vũ Trọng Xưởng con trưởng Vũ Trọng Đóa, cụ bà Vũ Thị Thanh chi 3 sinh Vũ Trọng Hiệu, Vũ Thị Mỗ lấy Vũ Đình Tâm chi 3.

Vũ Trọng Cản con chủ Vũ Trọng Đóa, 1 gái lấy Vũ Huy Loan, phái Kỷ.

Vũ Trọng Đính, con Vũ Trọng Đoan, sinh Vũ Trọng Chính.

Vũ Đình Huệ, con trưởng Vũ Đình Dán, bà cụ họ Lê, người xã Hoạch Trạch sinh 1gái lấy Vũ Đình Trí.

Vũ Đình Nhận, con thứ Vũ Đình dán, cụ bà Vũ Thị Cần, con Vũ Huy Kỳ, phái Kỷ, sinh Vũ Đình Giao, Vũ Đình Thọ, thị Nhẫn, giáo viên cấp I, lấy chồng người làng Thượng Khuông.

HNC IV/10

Vũ Phương Phu, con Vũ Phương Phi có con Vũ Phương Đoan di cư.

Vũ Phương Phách, con Vũ Phương Phi, 2 trai, 2 gái, 1 trai đi Đức.

Vũ Phương Mưu, con Vũ Phương Mui có con Vũ Phương Vui.

Vũ Phương Huy, con Vũ Phương Huân không có con trai.

Vũ Phương Hoa, con Vũ Phương Huân không có con trai.

Vũ Phương LÂm, con Vũ Phương Cầu, lấy con gái cụ thừa Quynh chi 3 sinh Vũ Phương Tùng, Vũ Phương Đông, Phương Đức, Phương…

Vũ Phương Dung, con Vũ Phương Tùng sinh Vũ Phương Khách, Vũ Thị Cành.

Vũ Phương Dong, con thứ Vũ Phương Tùng sinh Vũ Phương Mạo.

Đời thứ hai mươi.

Vũ Đình Đản, con Vũ Đình Diễm, có 1 con gái.

Vũ Đình Uyển, con thứ hai Vũ Đình Diễm lấy Vũ Thị Tình, chi 3 di cư Sài Gòn.

Vũ Đình Du, con thứ ba cụ Vũ Đình Diễm, lấy Vũ Thị Dân chi 2, sinh Vũ Ngọc Giao. Vợ thứ  sinh con cái ở Hà Nội.

Vũ Đình Phác, con thứ tư cụ Vũ Đình Diễm di cư Hà Nội.

Vũ Đình Chu, con thứ năm cụ Vũ Đình Diễm.

Vũ Ngọc Chư, con thứ sáu cụ Vũ Đình diễm, giáo viên cấp II trường Tân Hồng, vợ người Lang tài sinh…

Vũ Đăng Vào, con trưởng Vũ Đăng tăng, bà cụ người làng My Thứ sinh Vũ Đăng Đường, Vũ Đăng Bệ, Vũ Đăng Nông, Vũ Đăng Minh, Vũ Đăng Tân.

Vũ Đăng tỳ, con thứ Vũ Đăng Tăng, bà cụ họ Nguyễn sinh 2 gái, Vũ Đăng Bông, Vũ Đăng Bưởi, Vũ Đăng Cam. Thứ thất sinh Vũ Đăng Hồng, Vũ Đăng Cốm, Vũ Thị Quất lấy Vũ Phương Huy, sau lấy Vũ Xuân Sùng phái đinh.

Vũ Đăng Ba, con thứ ba cụ Vũ Đăng Tăng. Cụ bà họ Lê sinh Vũ Đăng Cà, Vũ Đăng Sát, Vũ Đăng Ca.

Vũ Đăng Cát, con thứ tư cụ Vũ Đăng Tăng, bà cụ con cụ Vũ Xuân Vàng phái đinh sinh Vũ Đăng Cảu 1 gái. Thứ nhất sinh Vũ Đăng Cơ, Vũ Thị Cũ lấy Nhữ Đình Kính.

Vũ Đăng Đặt, còn tên là Liêu, con thứ năm cụ Vũ Đăng Tăng sinh Vũ Đăng Tuân, Vũ Đăng Thấu, Vũ Đăng Minh, Vũ Đăng Quý.

Vũ Đăng Tương, con Vũ Đăng Tuỳ bà cụ họ Nguyễn sinh Vũ Đăng Tác, Vũ Đăng Nhạc, Vũ Đăng Huề.

Vũ Đăng Duyệt, con cụ Vũ Đăng Thỏ sinh Vũ Đăng Điềm.

HNC I/11.

Vũ Duy Trách di cư đi Hà Nội: Các ông Vũ Duy Phiên, Vũ Duy Ích, Vũ Duy Cao, Vũ Duy Thiện.

Di cư đi Hải Dương: Vũ Duy Hợp, Vũ Duy Tư, Vũ Duy Khiêm, Vũ Duy Toàn, Vũ Duy Cổn, Vũ Duy Nguyện.

Di cư lên Kẻ Sạt Vũ Duy Hạnh.

Vũ Duy Giỏi, con cụ Vũ Duy Phu.

Con cụ Vũ Duy Lịch.

Vũ Duy Ngọc, con cụ Vũ Duy Ngạnh.

Vũ Duy Muôn, con cụ Vũ Duy Ốc.

Con cụ Vũ Duy Công, Vũ Duy Sinh, Vũ Duy San, Vũ Duy Văn…

Người sau bổ sung và ghi tiếp.

HNC II/11.

Vũ Duy Thước, con cụ Vũ Duy Lạng, cụ bà họ Vũ chi 3 sinh 1 gái.

Vũ Duy Hùng, con cụ Vũ Duy Hoan.

Vũ Duy Tiệp, con trưởng cụ Vũ Duy Yết.

Vũ Duy Kỹ, con thứ cụ Vũ Duy Yết.

Vũ Huy Lang, con trưởng cụ Vũ Huy Ngần, cụ bà con gái Vũ Xuân phái đinh, sinh Vũ Huy Thạch, Vũ Thị Thìn lấy Vũ Đình Tuệp chi 3, Vũ Thị Vãn lấy Vũ Xuân Quất phái đinh, Vũ Thị Vây lấy Vũ Đăng Yếm phái mậu, Vũ Thị Lang lấy chồng ở Hà Nội, Vũ Thị Ly lấy Vũ Đăng Khoát chi 3.

Vũ Duy Dư, con thứ cụ Vũ Duy Ngận, cụ bà là con gái Vũ Huy Tiểu phái mậu, sinh Vũ Duy Thuý, Vũ Thị Mộ lấy chồng người huyện Mỹ Hào., Vũ Thị Bình lấy chồng người ở Hà Nội.

Vũ Duy Truy, con cụ Vũ Duy Tuynh, cụ bà là con gái Vũ Đăng Phượng chi 2, sinh 1gái và Vũ Duy Nguyện, Vũ Duy Bò, Vũ Duy Hào, Vũ Duy Su.

Vũ Duy Thiệu, con thứ cụ Vũ Duy Tuynh lấy chồng người làng Hà Xá.

Vũ Duy Ổi, con cụ Vũ Duy Tỷ, cụ bà con gái Vũ Duy Lanh phái Kỷ, sinh Vũ Duy Tuyên, Vũ Duy Huân.

Vũ Duy Thóc, con cụ Vũ Duy Hệ sinh Vũ Duy Trinh, Vũ Duy Lương.

Vũ Duy Học, con cụ Vũ Văn Tập, bà họ Nguyễn sinh Vũ Thị Hảo lấy Vũ Huy thứ phái Kỷ. Vũ Văn Hiệu (liệt sĩ), Vũ Thị Nhỡ nhỏ, Vũ Thị Nhỡ con.

Vũ Duy Hạch, con cụ Vũ Văn tập bà phái mậu, vô tự.

Vũ Duy Đàn con Vũ Duy Đăng, cụ bà Vũ Thị Diên con Vũ Huy Nhu phái Kỷ.

Vũ Huy Bân, con Vũ Huy Danh lấy Vũ Thị Bản con phó tổng Nguyễn Văn Mậu xã Đông La Thanh Miện sinh………

Vũ Huy Sắt, con Vũ Huy tạc.

HNC III/11.

Vũ Trọng Thích, con cụ Vũ Huy Đinh.

Vũ Đình Giậu con cụ Vũ Đình Nhận.

Vũ Đình Thọ, con cụ Vũ Đình Nhận.

HNC IV/11.

Vũ Phương Đoàn, con cụ Vũ Phương Pha di cư đi Hà Nội.

Vũ Phướng           , con cụ Vũ Phương Phác đi Đức.

Vũ Phương    con cụ Vũ Phương Phách.

Vũ Phương Tùng, con cụ Vũ Phương Lâm.

Vũ Phương Đồng, con cụ Vũ Phương Lâm.

Vũ Phương Đức, con cụ Vũ Phương Lâm.

Vũ Phương Khách, con cụ Vũ Phương Dung.

Vũ Phương Mao, con cụ Vũ Phương Dong có 2 trai, 2 gái.

Đời thứ hai mươi mốt.

Chỉ những điều thu thập được người sau bổ sung và ghi tiếp, kể từ ngành trưởng thứ và hậu ngũ chi.

Vũ Đăng Đường, con trưởng cụ Vũ Đăng Vào.

Vũ Đăng Bê, con thứ cụ Vũ Đăng Vào. BÀ cụ Trương Thị An, người Thanh Hoá sinh Vũ Đăng Thịnh, di cư đi Hà Nội. Vũ Đăng Phượng liệt sĩ chồng Pháp. Vũ Thị Xây lấy Vũ Đăng Thấu phái Kỷ, Vũ Thị Mến lấy Vũ Đăng Vại phái chi, Vũ Đăng Ngạn di cư vào Nam, Vũ Thị Nhâm lấy Vũ Đình Nạp chi 3.

Vũ Đăng Mông, con thứ ba cụ Vũ Đăng Vào, bà cụ Vũ Thị Mậu sinh Vũ Đăng Thưởng, Vũ Đang Nhĩ, Vũ Thị Nhơn lấy chồng người Nhữ đồng xá Thái Hoà.

Vũ Đăng Mênh.

Vũ Đăng Tân, bà cụ người phái đinh sinh Vũ Đăng Nhai, di cư đi Hà Nội. Vũ Đăng Đức, Vũ Thị lấy Nguyễn Văn Thành, một thị lấy chồng ở làng quán xá Bình Xuyên, một thị lấy chồng ở Hải Phòng.

Vũ Đăng Bòng, con cụ Vũ Đăng Tỳ.

Vũ Đăng Bưởi, con thứ cụ Vũ Đăng Tỳ, di cư đi Hà Nội, Vũ Thị Thán lấy Vũ Xuân Mai, phái Kỷ.

Vũ Đăng Cau.

Vũ Đăng Cà, con trưởng Vũ Đăng Ba, bà cụ Lê Thị Dân sinh Vũ Đăng Lãng, Vũ Đăng Thế, Vũ Đăng Pháo, Vũ Thị Liếng lấy Vũ Đăng Phận phái mậu.

Vũ Đăng Sắt, con thứ Vũ Đăng Ba, cụ bà Vũ Thị Si, phái đinh, sinh Vũ Đăng Vi, Vũ Đăng Út, Vũ Thị Tuất lấy Vũ Đăng Quyết, Vũ Thị Hội lấy Nhữ Đình Nhu, Vũ Thị Thìn lấy Vũ Đăng Sở.

Vũ Đăng Ca, cont hứ ba cụ Vũ Đăng Ba, cụ bà Vũ Thị Lượt phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Sáng tức Còn, Vũ Đăng Hoa, Vũ Thị Côi lấy Vũ Huy Dĩ, phái Kỷ. Bà thứ sinh Vũ Đăng Kèn (liệt sĩ).

Vũ Đăng Cơ, con thứ Vũ Đăng Cát sinh Vũ Đăng Vạn (vào nam), Vũ Đăng Tuế.

Vũ Đăng Tuân, con Vũ Đăng Đặt, sinh Vũ Đăng Thuý, Vũ Đăng Thuân, Vũ Thị Dược lấy chồng An Đông.

Vũ Đăng Thấu, con thứ 2 Vũ Đăng Đặt sinh Vũ Đăng Mai di cư vào Nam.

Vũ Đăng Quỳ, con thứ Vũ Đăng Đặt sinh Vũ Đăng Di, di cư Hải Phòng.

Vũ Đăng Thuận.

Vũ Đăng Tác, bà cụ Vũ Thị Xiêm chi 3 sinh Vũ Đăng Vi, Vũ Đăng Vân, Vũ Đăng Khởi, con gái lấy Vũ Đăng Bác.

Vũ Đăng Nhạc, bà cụ Vũ Thị Sao, chi 2 sinh Vũ Đăng Khánh, Vũ Đăng Lịch, Vũ Thị Ty lấy Vũ Huy Tế Phái Kỷ.

Vũ Đăng Huề, bà cụ Vũ Thị Ỏi, phái mậu, sinh Vũ Đăng Mùi, Vũ Thị lấy Vũ Huy Sương phái Kỷ, 1 lấy Vũ Duy Hiệp phái Kỷ, 1 lấy Vũ Huy Lập cùng chi.

4.     PHÁI ĐINH (PHÁI THỨ TƯ)

Đời thứ nhất:    Vũ Công, cụ là khai tổ của phái đinh, nhà thờ “Thế Trạch đường”, con gọi là Tràng Xuân Đường, tên hiệu Huyền Ân, mộ táng tại mả miễu, ngày giỗ: mồng 7 tháng giêng âm lịch. Cụ bà họ Vũ, hiệu Dụ Huệ, hợp táng bên mộ cụ ông, sinh 2 con trai trưởng: Vũ Cương Trực, thứ: Vũ Hồng Phạm.

Đời thứ hai:    Vũ Cương Trực, con trưởng cụ Huyền Ân, còn có tên là Khổng, cùng 3 người làng là Tuấn, Đổng, Đột, chơi thân. Ngày ngày, sau bữa cơm, bốn người tập chạy đuổi nhau. Ông Khổng thường được cuộc. Người làng gọi 4 ông là bốn kẻ hào.

Bấy giờ thời nhà Mạc (1527-1592), có quốc cửu nhà mạc, ở Dương Kinh, thuộc đất Hải Phòng hiện nay, mỗi khi về kinh đô Thăng Long, đi qua quán Thời Cử, nay là làng Tuyển Cử, thường bắt dâu làng Mộ Trạch cử người lân khênh võng. Bốn kẻ hào làng Mộ Trạch xin đi. Bốn ông thay nhau khênh võng, chạy như bay, bỏ xa bọn lính hầu. Đến chợ Đan Thị, tổng Trưởng xá, huyện Đường Hào bấy giờ là Mỹ Hào, bên đường có giếng, bốn ông khênh quốc cữu đến gần giếng, miệng cùng hát: dênh dang là cái dênh dang, mát chăng hỡi cậu! tay hất võng, quốc cửu rơi xuống giếng, rồi bỏ chạy như bay. Quốc cữu ướt lướt mướt trèo lên, hầu chúa đến nơi, uất giận mà không làm sao được. Dân thoả lòng da, phục tài bốn ông, gọi Vũ Cương Trực là “tẩu trạng nguyên” (trạng chạy). Trên đường về, gặp một làng vào đám, đường bày trò  vui ở sân đình. Cương Trực vào thách thi chạy với thanh niên khoẻ mạnh của làng. Dân làng bằng lòng, làm giấy cam kết. Cương Trực vai vác trống cái, tay cầm là cờ của làng ấy, cắm đầu chạy, dân làng không ai đuổi kịp. Trống và cờ đem về để ở đình làng. Ngày giỗ cụ, mồng một tháng 6. Bà cụ hiệu Từ Ý cùng cụ ông táng ở mã miễu, giỗ ngày 27 tháng chạp, sinh một trai là Vũ Đôn Chất.

Vũ Hồng Phạm, con thứ cụ Huyền Ân, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng, làm chức Giang Dụ, tước Tri lễ bá. Hiệu Thất Trai tiên sinh. Bà cụ là Lê Thị Huy, hiệu Từ Huy phu nhân, không có con, nuôi cháu gọi bằng chú là Vũ Đôn Chất làm con.

Đời thứ ba:   Vũ Đôn Chất, con cụ Vũ Cương Trực, Giỗ ngầy 15 tháng 2, hưởng quan viện tử của chủ Vũ Hồng Phạm, bà cụ là Vũ Thị Huấn, hiệu từ ý, ngày giỗ 18 tháng 5, sinh 2 con trưởng là Vũ Công Tiếu, thứ là Vũ Công Điều.

Đời thứ tư:    Vũ Công Tiến, con trưởng cụ Vũ Đôn Chất, theo cụ Vũ Công Đạo đi sứ phường Bắc, về làm chức Đại an  huyện Huyện Thừa, tước phấn dương nam sinh 2 trai, trưởng là Vũ Tú Lãi, thứ là Vũ Tú Sáng.

Vũ Văn Điều, con thứ cụ Vũ Đôn Chất, sinh  năm Quý Mùi (1583) chăm làm việc thiện. Có công nuôi dạy 2 cháu là Vũ Công Đạo, Vũ Công Lượng, học đỗ Tiến sĩ, được phong Hạ hoà phủ tư phủ, tự Ca hạ, hiệu Khánh Hiên, giỗ ngày 14 tháng 7, thọ 81 tuổi. Bà cụ Vũ Thị Phi, hiệu Từ Chính, giỗ ngày 20 tháng 4, sinh 1 trai Vũ Văn Hấu.

Thọ Hình Bá Vũ Công Đạo có thơ: Tuý bão tòng dong dưỡng thọ huynh Khoa, danh luỹ tiến phúc hương đình. Lão thành canh giác quân Ai Cập. Dụ hậu do kỳ hữu phúc nguyên.

Dịch nghĩa: Nhiều công nuôi dạy cháu, con, anh. Khoa danh nổi tiếng chốn triều đình. Đến già lại được ma ban tước. Mai sau phất đạt đẩy căn nguyên.

Đời thứ năm:   Vũ Tú Lãi, con trưởng cụ Vũ Công Tiến, vô hậu.

Vũ Tú Sàng, con thứ cụ Vũ Công Tiến, sinh Vũ Thị Bàu và Vũ Thị Mỡ. Vũ Thị Bàu vô tự.

Vũ Văn Hành, con trưỡng cụ Vũ Văn Điều, học giỏi văn chương tinh tế, thi hương đỗ giải nguyên, làm quan hộ bộ lang trung, tước An phủ tử, dạy học có nhiều học sinh thành đạt, như trạng nguyên Nguyễn Viết Khỏi, người viết văn bia thế trạch đường. Khi cụ mất triều đình phong thượng bảo tự Khanh, An phú hầu, cụ có tên là hiếu Phu, tên hiệu là Sức Cẩm. Bia đương an tiêu hiền hiện còn ở đình làng Hoạch Trạch có tên cụ vì cụ dạy nhiều học trò đỗ cao và có 2 người đỗ Tiến sĩ. Bà cụ là Vũ Thị Đối, con cụ Vũ Quốc Sĩ chi 5, phong thân nhân, hiệu Trung Ý sinh ba trai: Vũ Công Đạo, Vũ Công Lương, Vũ Công Tướng, 2 gái: Vũ Thị Lãng lấy Tiến sĩ Vũ Công Bình, phái Kỷ. Vũ Thị Khuy lấy quốc tử giám Vũ Mỗ, thất truyền. Cụ Vũ Văn Hành thọ 48 tuổi, giỗ ngày 18 tháng 10.

Con trưởng, Vũ Công Đạo tức Thọ hình bá có 4 câu thơ về cụ Ngô nho sư biếu Tống, Chu, Trình. Ngộ thánh hoàng duyên mộc long vinh. Trung hiếu nhất thời do vị mãn. Phong tiến sắc hậu thế Khoa vinh.

Dịch nghĩa: Thầy ta giỏi Tống, Chu, Trình. Gặp vua duyên hợp sắm ơn vinh. Trung hiếu một thời thôi đã đủ. Thịnh trước vãng sau thế Khoa vinh.

Đời thứ sáu:   Vũ Công Đạo, con trưởng cụ Vũ Văn Hành, đỗ Tiến sĩ Khoa Hợi kỷ (1659) cùng với cậu là Vũ Cầu Hối, anh bên ngoịa Vũ Duy Hài, con tể tướng, quốc lão Vũ Duy Chí và người làng là Lê Công Triều. Khoa ấy cả nước lấy đồ 20 người thì Mộ Trạch chiếm 4. Hiện có bia ở Văn Miếu Hà Nội. Năm dương đức thứ nhất (1672) cụ Vũ Công Đạo cùng anh bên ngoại là Tiến sĩ Vũ Duy Hài sang sứ nước Tàu, khi về được thăng đô đài ngự sữ. Sau làm đến lễ bộ thư, trước bá.

Sau cùng anh bên ngoại là Tiến sĩ.

Vũ Duy Đoán ngay thẳng can chúa Trịnh. Không nên mê chọi gà, nuông chiều kẻ hậu cận không tốt, mà cả hai cụ đều bị cát chức, nhưng sau lại được hồi phục. Lịch sử của cả nước Khêu hai cụ là cứng cỏi, văn chương phê phán mạnh mẽ.

Nhà cụ ở ngõ phúc lộc tên là “ thế Trạch Đường” lấy biệt danh là “ Tu Giảng Đường” lại làm “Tràng Xuân Đường” o72 phía đông đình, làm nơi dạy học, ngâm thơ. Học trò cụ nhiều người thành đạt. Hai xã Thanh trí và Kim Lục thờ cụ làm tổ. Cụ viết nhiều thơ văn. Nay ở nhà thờ Thế Trạch hay còn gọi là Tràng Xuân, có ba bia khắc những bài văn của cụ như bài châm vĩnh thế mẫu giảm ( gương sáng mãi cho đời); Trùng  xuân bi ký ( bia khắc những bài thơ về Tràng Xuân hiệu); bia khắc bài thơ cụ làm khi về trí sĩ.

Khi cụ về trí sĩ, nhân dân 2 tổng ngọc cục và Tuyền cử cử người đi đón, nhà vua tặng 6 đôi câu đói như sau:

1/ Dong tỉnh tả ti, đào lý mãn; Lưu tào đẩu tiễn bích Khuê tân.

 ( Dáng vẻ tả ti, đào lý đủ; Gây cụ in nét bích Khuê tân). Người giá chống gậy,  ở đâu gậy có hình con chim cứu:

2/ Bách giả sương quan triều giả trọng; hàm giang tuyết tĩnh cổ phong cao

 ( Thẻ trăng làm quan triều đình trọng;  sông hàn tuyết trắng gió xưa cao).

3/ Hảo chính, hảo văn, ưu quốc khí; Cao khoa, cao chí mai hương hiếu

 ( Tốt chính, tốt văn, vui nước chuộng; Cao khoa , cao chí, ông già làng hiếu).

4/ Vạn lý vân trình bằng dực phấn; nhất thiện hải chữ lộ tình thân

( vạn dặm đường mây bằng sải cánh; một trời bãi bê lộ ( loài chim) tình thân).

5/ Bảo toàn điệp hà nhân ân hậu; xuân hữu tràng ưng phúc lộc mình

( Bào toàn gánh vác nhân ân hậu; xuân giáp tràng công phúc lộc bền).6/ Tuế nguyệt nhân cung điện lý lục; Sơn hà khãnh diễn quốpc gia đồng.

(Năm tháng nhân vui cùng làng ruộng, Sơn hà đầy phúc nước như nhà)

Cụ sinh năm canh ngọ ( 1629) thọ 86 tuổi, tên Tguỵ là giản trực, hiệu là Thời Tẩu, Giờ ngày 3 tháng 7 âm lịch. Thơ của cụ đề tên là Thọ Lỉnh Bá.

Cụ bà Vũ Thị Ngọc Lâm, hiệu Nghiã Phương, ấm phong cẩn nhân, thọ 76 tuổi, giỗ ngày 14 tháng 2 , sinh 8 trai, 3 gái. Tám trai là Vũ Công Thông, Vũ Công Thuân, Vũ Công Taọ, Vũ Công Nhạ, Vũ Công Địch, Vũ Công Quỳ, Vũ Công Huýnh, Vũ Công Tô. Ba gái là Vũ Thị Luyện, lấy Vũ Duy Tư, Vũ Thị Chiêm lấy Vũ Duy Khang thuộc nhà thờ thế khoa, Vũ Thị Tuệ lấy Lê Công Quán, con Lê Công Trịều.

Vũ Công Lượng, con thứ hai cụ Vũ Công Hành, 15 tuổi đỗ Hương tiến, 22 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa bính thân (1656), khoa ấy cả nước lấy đỗ sáu Tiến sĩ thì Mộ Trạch chiếm ba đó là: Vũ Công lượng, Vũ Trác Lạc, Vũ Đăng Long. Cụ làm chức hình khoa đô cập sự trung, tức Xuân Lan Nam, tự Lão độn, hiệu Tồn Văn, thọ 64 tuổi, mộ ở ông mô, ngày giỗ 27 tháng 9 âm lịch. Vụ bà Vũ Thị Toán em gái cụ Vũ Trác Oanh, thọ 50 tưổi, hiệu Từ NHân, sinh 2 trai: Vũ Công Thiện, Vũ Công Tín; 2 gái: Vũ Tgị Loan lấy tri huyện Vũ Công tể, Vũ Thị Khương lấy Vũ Bất Luận.

Thọ bà hình có thơ về cụ: Khoa danh bá trọng dự triều ban: Đạo lý ưu du, nghĩa mệnh an. Niên lão quyên quyên tâm bởi lão: Tể thời nhất sách bán lưu khan.

Dịch nghĩa:    Anh em khoa hoạn dự triều ban. Đạo lý vui chơi, nghĩa mệnh an. Tuổi già phơi phới lòng không lão. Giúp thời một khắc lưu ban.

Vũ Công Tướng, con thứ ba cụ Vũ Văn Hành 19 tuổi đỗ Tiến sĩ, 5 lần thi hội, chỉ vào hết trường ba và đỗ phó bảng làm quan nghị xứ Thanh Hoá, thọ  61 tuổi, hiệu Ninh Hiên, giỗ ngày 14 tháng 8 âm lịch. Cụ bà con gái Tiến sĩ Lê Công triều, hay chỉ giỏi làm thơ quớc âm. Cụ cùng cụ ông dạy học, học trò đỗ nhiều trong ấy có Tiến sĩ Nguyễn Thương Thịnh là người thôn hạ. Cụ hiện Ôn Nhuận, thọ 70 tuổi, sinh Vũ Công Dũ, Vũ Công Trung, Vũ Công Thực. Gái có Vũ Thị Chinh lấy Vũ Đăng Giai; Vũ Thị Tông lấy Vũ Bật Trực con cụ Vũ Duy Hài; Vũ Thị Vọng lấy Phạm Quang Vĩnh người làng Ngọc Cục.

Thọ hình bá có thơ về cụ:  Khoa tràng kỳ huấn dụng phương thi. Trọng tuấn thừa tuyên chức cảnh ti. Giảm thác giải thư phủ sở dục nhân sinh thất thập cổ lai hi.

Dịch nghĩa: Khoa tràng lão tuấn lắm phương thi. Trọng Trấn Thừa tuyên chức nhận kỳ. B|Sang sửa giải nhân theo sở dục. Người sinh bảy chục đã là hi.

Đời thứ bảy:   Vũ Công thông, con cả cụ Vũ CÔng Đạo, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng, làm chức cấm sự lang minh nghị vệ điển bạ, hiệu hữu am tiên sinh. Cụ bà là Vũ Tgị Suý, con gái cụ Vũ Cầu Hối, hiệu Diệu Hoà, sinh Vũ Công Tuân, gái Vũ Thị Khôi, lấy Vũ Duy hạnh, con trai Tiến sĩ Duy Khuông. Cụ ông thọ 63 tuổi, giỗ ngày 25 tháng 11 âm lịch.

Vũ Công Thuần, con thứ hai cụ Vũ Công Đạo, nhà thờ “Gực Trạch Đường” đỗ nho sinh, thọ 82 tuổi, phong hoàng tín đạo phu, hiệu trúc Hiên, mộ táng ở Mả Miễu, giỗ ngày 14 tháng 4. Bà cụ họ Vũ, hiệu Thuần Khiết, sinh 3 trai: Vũ Công thấu, Vũ Công Cối, Vũ Công Thuý, 1 gái Vũ Thị Thuê. Thứ nhất người thôn hạ, hiệu Từ Cung sinh 1 trai Vũ Công phùng, 4 gái: Vũ Thị Ví, Vũ Thị Riêu lấy ông Lê Láng làng Chân Khê; Vũ Thị Nghị, Vũ Thị Vẻ lấy ông Nhật Bình.

Vũ Công Tạo, con thứ ba cụ Vũ Công Đạo, đỗ giải nguyên Khoa thi lương, lại trúng hội tràng, lui đầu làm cổ pháp tự thừa thăng tri phủ kinh môn. Cụ sai thợ đá kinh chủ làm thiên đài ở động kính chư, có đề thơ. Lai thăng Nghệ An hiến sát phó sứ, cụ mở trường dạy học, nhiều người thành tài. Cụ viết sách “Nam thiên minh giấm sự tích” do Vũ Nhật Tựu và Vũ Công Thấu hiệu chính. Thọ hơn 60 tuổi, hiệu Trần Lý. Ngày giỗ 15 tháng 2 âm lịch. Nhà cụ gọi là: “Thực đức đường”. Cụ bà Vũ Thị Viên, hiệu Thúc Hành, con gái Tiến sĩ Vũ Duy Hài sinh Vũ Công Mai, gái Vũ Thị Chuột lấy Lê Hương Khê. Cụ lại lấy Đỗ Thị Mổ, hiệu Từ Thuận, sinh Vũ Công Dật, Vũ Công Dạt, Vũ Công Liên, gái Vũ Tgị trấn lấy Lương Khê người làng Châu Khê, đỗ Hương tiến, sinh con gái gã cho Vũ Phương Lan. (thơ số 24, trang 451).

Vũ Công Nhạ, con thứ tư cụ Vũ Công Đạo, đỗ Hương tiến, làm quang hiếu điện tự thừa, thăng hộ bộ viên ngoại lang, laại thăng tuyên quang xứ hiển sát phó sứ, hiệu khoan nguyện. Cụ bà Vũ Thị Sinh, sinh 3 trai: Vũ Công Toại, Vũ Công Quát, Vũ Công Đãi.

Vũ Công Địch, con thứ năm cụ Vũ Công Đạo, đỗ nho sinh lấy Vũ Thị Mổ sinh Vũ Công Nhiêu, Vũ Công Liêu, gái Vũ Thị Chính.

Vũ Công Quỳ, con thứ sáu cụ Vũ Công Đạo, đỗ Hương tiến, làm tri phủ Thiên Thiên, hay uống rượu, hiệu Tuý Hiên. Cụ bà Vũ Thị Chiêm, con gái lang trung Vũ Đặng Doanh, sinh Vũ Thị Vinh. Bà thứ Phạm Thị Đô, con gái cụ Tiến sĩ, người làng Ngọc Cục, sinh 3 gái. Vũ Thị Bài lấy Đào Hiểm Tú người làng Ngọc Cục, sinh huyện liền Vệ Toán; Vũ Thị Lương lấy Vũ Thằng sinh Vũ Thái Hanh. Vũ Thị Hanh sinh Vũ Thị Cầm, Vũ Áng Phượng thuộc họ Lưu Khánh và Phương Trạch; Vũ Thị Hiếu có sắc đẹp học hay chữ, cùng em họ là Vũ Thị Trấn, con cụ Vũ Công Tạo; Vũ Thị Vang con cụ Vũ Công thực vào trường ứng thi. Bà Hiếu lấy Vũ Đăng Cơ, goá chồng. Các phi tần nhà vua, năm 39 tuổi về tu ở chùa làng thọ 90 tuổi.

Vũ Công Huýnh, con thứ bảy cụ Vũ Công Đạo vô tự.

Vũ Công Tố, con thứ tám cụ Vũ Công Đạo, lấy bà Vũ Thị Tịnh sinh 3 gái.

Vũ Công thiện, con trưởng cụ Vũ Công lượng, đỗ Hương tiến, trúng hội tràng, làm huấn đạo rồi tri huyện Thanh Lan, hiệu Học nguyên tiến sinh, lấy bà Vũ Thị Mỡ sinh Vũ Công Mỹ .

Vũ Công Tuấn, con thứ cụ Vũ Công lượng, 18 tuổi, đỗ Hương tiến, khao tân dậu (1861) trúng hội tràng, làm huấn đạo phủ Hạ Hồng, rồi đổi sang huyện Hoài Án, Thọ Sương, thăng tri ti tham nghị, thọ 72 tuổi, từ nột phu, hiệu nhu hoà, ngày giỗ 14 tháng 9 âm lịch. Bình sinh cụ người hoà nhũ, văn chương kỷ sảo. Cụ bà Vũ Thị Thái, hiệu Tuệ Dong, sinh 2 trai; Vũ Công Bá, Vũ Công Trong; 2 gái; Vũ Thị Sang lấy huyện bụt Vũ Đăng Khu; Vũ Thị Thấu lấy Vũ Đăng Thanh.

Vũ Công Dũ, con trưởng cụ Vũ Công Tướng, làm nho sinh, hiệu Đôn Khoan lấy Vũ Thị Mổ sinh Vũ Công Hoành.

Vũ Công trung, con thứ cụ Vũ Công Tướng, vô hậu.

Vũ Công Thực, con thứ ba cụ Vũ Công tướng, là quan viên tử, làm nho sinh huyện Thái Hiên, lấy Vũ Thị Ảo sinh Vũ Thị Tham.

Đời thứ tám:   Vũ Công tuân, con trưởng cụ Vũ Công Thông, đỗ Hương tiến, ấm phong hiển cung đại phu, hiệu Đạm Dịcụ bà Vũ Thị Khởi, con gái Tiến sĩ Vũ Trung Trình, chi 3, thọ 60 tuổi, tên hiệu Phúc Hiêm, sinh Vũ Công Tận, 1 gái Vũ Thị Oanh lấy huyện thừa người làng Đan Bài sinh Nguyễn Trấn đỗ nho sinh.

Vũ Công Thấu, con trưởng cụ Vũ Công Thuân, làm nho sinh, hiệu Hữu Hiên, lấy Vũ Thị Đôn, sinh 1 gái Vũ Thị Kỳ lấy Vũ Quân Lân sinh Vũ Đăng Ngạc, Vũ Đăng Đươi.

Vũ Công Cổi, con thứ cụ Vũ Công Thuần, thất truyền.

Vũ Công Thuý, con thứ ba cụ Vũ CÔng thuần, trúng hương thi làm nho sinh, có quận công, tri phủ Trà Lân, hiệu Tuấn Hiên, mộ táng ở Mả Dậm, giỗ ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch. Lấy bà Vũ Thị Hoán, con gái cụ Vũ Trọng Phái, phái Kỷ, sinh Vũ Công Trành và Vũ Thị Bích. Lại lấy người Thị Lục, người Thanh Hoá, sinh Vũ Công Bảng, Vũ Công Lãnh tức cụ thời chính. Bà chính thất hiệu Thân hạnh phu nhân, mộ táng ở Mã Miễu, gần cồn con voi. Bà thứ thất, hậu tứ nhân, mộ tnág ở Mã Dặm.

Vũ Công Phùng, con út cụ Vũ Công Thuần, khoa thi hương kỷ dậu trúng nho sinh, hiệu nhu hiên, lấy bà Vũ Thị Cảnh sinh Vũ Thị Duyên lấy ông Nguyễn Mổ người huyện Phù Dực. Thứ thất Vũ Thị Mổ sinh Vũ Công Tôn. Cụ Phùng giỗ ngày 29 tháng 9 âm lịch. Mộ táng tại Mã Miễu.

Vũ Công Mai, con trưởng cụ Vũ Công Tạo, thi hương trúng nho sinh, lấy Vũ Thị Mổ sinh Vũ Công Thuật; Vũ Thị Vãn lấy Vũ Thế Mãi, đời 10 chi 5, lại lấy Vũ Thị Chinh sinh Vũ Thị Minh.

Vũ Công Dạt, con thứ cụ Vũ Công Tạo, là ấm quan viên tử, tên tử Nhã Đạm, hiệu Nhu Hiên, giỗ ngày 16 tháng 6 âm lịch lấy Đào Thị Ngoan sinh Vũ Công Nghinh.

Vũ Công Dật, con thứ ba cụ Vũ Công Tạo, trùng hương thế là nho sinh, lấy Vũ Thị Liên sinh Vũ Huy Diệu.

Vũ Công Liễu, con út cụ Vũ Công Tạo, ấm quan viên tử, lấy Vũ Thị Thời vô tự.

Vũ Công Toại, con trưởng cụ Vũ Công nạh, dự hương thí là nho sinh, lấy bà Vũ Thị Mỗ sinh 1 gái Vũ Thị Giảm.

Vũ Công Quát, con thứ cụ Vũ Công Nhạ, dự hương thi là nho sinh, lấy Vũ Thị Mỗ sinh Vũ Công Đinh.

Vũ Công Đãi, con út cụ Vũ Công Nhạ, là ấm tử, có quân công được làm huệyn thừa huyện Vĩnh Khang, hiệu Pháp Nghi, cụ bà Vũ Thị Diệu, sinh 3 con gái Vũ Thị trân lấy Vũ Đức Huyễn tức cụ Giáo Tràng Khánh, Vũ thị Vinh lấy Vũ Duy Hinh, Vũ Thị Khang lấy Vũ Duy Kỳ.

Vũ Công Nhiêu, con trưởng cụ Vũ Công Địch vô tự.

Vũ Công Liêu, con thứ cụ Vũ Công Địch, vô tự.

Vũ Công Mỹ, con trưởng cụ Vũ Công thiện là nho sinh.

Vũ Công Bá, con trưởng cụ Vũ Công Tín, ấm quan viên tử, hiệu Nhã Đạm, ngày giỗ 23 tháng 8 âm lịch, lấy Vũ Thị Vẩn sinh Vũ Huy Xưởng.

Vũ Công Trọng, con thứ cụ Vũ Công Tín, thi hương trúng tam trường, bổ hưyện thừa, rồi khoa nhâm ngọ (1702) trúng hội trường, tri huyện Thanh lâm. Giải ấn từ quan, đi du ngoạn làng gọi là Kinh quan, mọi người yêu mến, thọ 67 tuổi, được tặng tuyên quang xứ, thứ chính xứ, trước trạch nghĩa hầu, tên Thuỵ Đôn Nhã, hiệu Huệ Hiên, lấy Vũ Thị Quảng sinh trai Vũ Lệnh Dư, gái Vũ Thị Lưu.

Vũ Công hoành, con út cụ Vũ Công Dũ, lúc bé học thông đỗ hương tiểu, thi hội trúng tam trường, dạy học, học trò đông nhiều người làm nên. Mất năm 34 tuổi, không có con trai. Bà cụ họ Lê sinh 3 gái.

Đời thứ chín:    Vũ Công tận, con cụ Vũ Công Tuân, là người phái thực, chăm làm việc thiện, lấy bà Vũ Thị Đức sinh Vũ Công Hoa.

Vũ Công Trành, con trưởng cụ Vũ Công Thuỷ, lấy Vũ Thị Mỗ, con gái thứ ba cụ Vũ Phương Lan, chi thứ ba, sinh Vũ Thị Mạch.

Vũ Công Bảng. cont hứ cụ Vũ Công thuỷ, thất truyền.

Vũ Công Lảnh, con thứ ba cụ Vũ Công Thuỷ, lấy Vũ Thị Quần sinh Vũ Công Duyệt, Vũ Công thúc, gái Vũ Thị Mổ lấy người pháí mậu; Vũ Thị Nhữ lấy Vũ Phương Nùng chi 5; Vũ Thị Mổ lấy Vũ Toàn Sinh phái mậu. Cụ Duyệt con tên là Thời Ủi.Cụ Vũ Thời Sắc mất sớm.

Vũ Công Tôn, con cụ Vũ Công Phùng, là sinh đồ, lấy Nhữ Thị Tính sinh một gái Vũ Thị Mỗ. Lại lấy Vũ Thị Chiêm sinh một gái Vũ Thị Mỗ.

Vũ Công Thuật, con cụ Vũ Công Mai, cụ chăm học và học giỏi, khoa nhâm ngọ (1702) đỗ Hương tiến làm giám sinh, vô tự.

Vũ Xuân Nghinh, con cụ Vũ Xuân Đạt, có quận công làm huyện thừa huyện Kim Sơn, lấy Vũ Thị Ánh, sinh Vũ Xuân Đồng, 1 gái Vũ Thị Nhâu.

Vũ Huy Diệu, con cụ Vũ Công Dật, năm Kỷ Mão (1759) trúng hương thí là nho sinh lấy Vũ Thị Di sinh Vũ Xuân Bách, Vũ Thị Đường, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Công Đinh, con cụ Vũ Công Quát, lấy Vũ Thị Nợ không có con, nuôi Danh Thái, Danh Vưu làm con nuôi.

Vũ Huy Xưởng, con cụ Vũ Công Bá, thi hương trúng tam tràng, là nho sinh sau đỗ Hương tiến, làm huấn đạo, rồi huyện Đan Phượng, lấy Lê Thị Sinh sinh 5 trai: Vũ Huy Tập, Vũ Huy Tố, Vũ Huy Khản, Vũ Huy Nhâm, Vũ Huy Tuần; 2 gái: Vũ Thị Diệp, Vũ Thị Trương.

Vũ Lệnh Dự, con cụ Vũ Công Trọng, 13 tuổi đã đi thi hương, trúng nho sinh, năm kỷ mão (1702) trúng Hương tiến, lại trúng ngự đề. Đi theo chinh phạt Hưng Hoá, phụng quản lính hoả đội. Lại thăng Vũ uý bá phù. Cụ bà là Vũ Thị Diễn sinh trai Vũ Công Tinh, gái Vũ Thị Sứ.

Đời thứ mười:  Vũ Công Hoán, con cụ Vũ Công tân, làm cai hợp lấy Nguyễn Thị Mỗ sinh 7 trai: Vũ Công Trình, Vũ Công Dưỡng, Vũ Công Sửu, Vũ Công Ngọ, Vũ Công Hợi, Vũ Công Toản, Vũ Công Biên; 3 gái: Vũ Thị Con, Vũ Thị Phái, Vũ Thị Viễn.

Vũ Công Duyệt, con trưởng cụ Vũ Công Lãnh, còn tên là Thời Cử, thọ 32 tuổi, giỗ ngày 18 tháng 10, tự Đôn Chất, hiệu Tiểu        , mộ táng cồn giữa ruộng mả miễu. Bà cụ Vũ Thị Uyên, con cụ lang trung Vũ Đình Thường, họ ông Tú Kiên, ci 3, sinh một trai là Vũ Công Điệt, gái là Vũ Thị My, lấy Vũ Huy Sản, cháu cụ bồi tụng Vũ Huy Đĩnh, sinh 2 trai là Vũ Huy Đồn, Vũ Huy Tốt; gái là Vũ Thị Vỏ lấy ông tú Bích ở làng Phú Khê sinh tri phủ Vũ Huy Lang. Vũ Huy Đồn sinh Vũ Huy Đạc. Vũ Huy Đạc sinh Vũ Huy Địch, Vũ Huy Châm. Bà cụ thọ 86 tuổi, hiệu Trinh Thục, mộ táng ở cồn mả Rồng, ngày giỗ 30 thàng 11 âm lịch.

Vũ Công Thúc, con thứ cụ Vũ Công Lãnh, tức Vũ Huy Thính, mộ ở cồn ông Quế. Bà cụ Vũ Thị Đăng, người phái tân, sinh Vũ công Nghô.

Vũ Xuân Đồng, con cụ Vũ Xuân Nghinh, nho sinh làm trình bộ tứ vụ, tước Phái Trạch Trỉ, hiệu Nhu Hiên. Bà cụ Vũ Thị Cường, hiệu Thục Cẩn sinh Vũ Xuân Toàn, gái Vũ Thị Quyên lấy cấp sự trung Vũ Duy Linh, sinh Vũ Duy Tốn; Vũ Thị Thuyền lấy Vũ Nhật Huân, phái tân sinh Vũ Nhật Đào.

Vũ Xuân Bách, con cụ Vũ Xuân Diệu, lại tên là Vũ Xuân Thời, đỗ nho sinh, làm công khoa cấp sự trung, tước Thì Đức Tử, lấy Vũ Thị Manh con gái cụ bồi tụng thượng thư Vũ Huy Đĩnh, sinh Vũ Xuân Tình, Vũ Xuân chúc. Lấy thiếp người xã Phương Duy huyện Gia Lộc sinh Vũ Xuân Chiêu tức Vũ Xuân Xầm sang ở quê mẹ xã Phương Duy.

Vũ Huy Tập, con cụ Vũ Huy Xưởng, khoa kỷ mão, thi hương trúng tam trường, là sinh đồ, lấy Nguyễn Thị Giáp người xã Hoạch Trạch, sinh Vũ Huy Thuyên, gái có Vũ thị Lục, Vũ Thị Viên, Vũ Thị Diêu.

Vũ Huy Tố, con thứ cụ Vũ Huy Xưởng, thi hương trúng sinh đồ, rồi khoá  sau đỗ Hương tiến, lấy Vũ Thị Liên, con gái Vũ Huy Đĩnh, phái Kỷ, hiệu Đoan Nhã, vô tự.

Vũ Huy Khản, con thứ ba cụ Vũ Huy Xưởng, thi hương đỗ sinh đồ, lấy Vũ Thị Mỹ, con gái cụ Vũ Tông Hải sinh Vũ huy Vi, Vũ Đức Dụng, Vũ Huy Triệu, gái Vũ Thị Ơ, lấy Vũ Đăng Thân, chi 2.

Vũ Huy Nhậm, con thứ tư cụ Vũ Huy Xưởng lấy bà Nguyễn thị, người làng Hoạch Trạch không có con.

Vũ Huy Tuần, con thứ 5 cụ Vũ Huy Xưởng lấy Vũ Thị Tạo, con gái Vũ Xuân Dục, chi 5, không có con.

Vũ Công Tịnh, con cụ Vũ Lệnh Dự, còn tên là Lang Chiểu, đỗ nho sinh, làm quan huyện Thuỷ Đường, đánh giặc có công được thăng An Quảng xứ Chiêu Thảo sứ, tước Chiêu Ngọc hầu, hiệu Phúc Trai, lấy con gái cụ Vũ Huy Đĩnh sinh Vũ Công Bính, Vũ Công Nhưỡng, Vũ Công Sinh, 1 gái Vũ Thị Ngân lấy cử nhân Vũ Huy Tích, tri huyện Hàm Yên sinh ông kép quý. Cụ Vũ Công Bính còn tên là Vũ Công Trường; cụ Vũ công Nhưỡng còn tên là Vũ Công Đồi, cụ Vũ Công Sinh còn tên là Vũ Công Dụ.

Đời thứ mười một:   Vũ Công Trình, con cụ Vũ Công Hoán, thọ 55 tuổi hiệu Đôn Nhã. Bà cụ Vũ Thị Thanh, thọ 64 tuổi, hiệu Phúc Thiện sinh một trai Vũ Công Khiển và 4 gái: Vũ Thị Hai, Vũ Thị ba, Vũ Thị Tư. Thứ thất họ Nguyễn sinh Vũ Công Trùng, Vũ Công Trúc (vô tự).

Vũ Công Sửu, con thứ cụ Vũ Công Hoán, tự Phẩm Nhược hiệu Dã Trai. Bà cụ hiệu Phương Nhu sinh Vũ công Nhâm, 2 gái là: Vũ Thị Công, Vũ Thị Thuận. Thứ thất hiệu Từ Cẩn sinh Vũ Công Sáu, Vũ Công Con, Vũ Thị Dụng, Vũ Thị Lễ.

Vũ công Dưỡng, con thứ ba cụ Vũ Công Hoán, thọ 63 tuổi tự Chất Nhã, hiệu Toán Hiên, sinh Vũ Công Hảo, Vũ Công Ngoan tức Nguyễn, gái Vũ Thị Kỷ lấy Vũ Hữu Như; Vũ Thị Hởn lấy Vũ Trọng Nghiễn.

Vũ Công Ngọ, con thứ tư cụ Vũ Công Hoán, hiệu Phác Trực làm xã trưởng, tục gọi xã giả, sinh 2 trai Vũ Công Mùi, Vũ Công Tý, 1 gái Vũ Thị Dán, Vũ Công Mùi sinh Vũ Công Nhân, vô hậu. Vũ Công Tý sinh 1 trai, 2 gái đi đâu không rõ.

Vũ Công Hợi, con thứ năm cụ Vũ Công Hoán, hiệu Phác Trực, lấy Nguyễn Thị thiệu sinh Vũ Công Chuẩn, Vũ công Kỷ, Vũ Công Tỵ, 2 gái Vũ Thị Quỳnh lấy Vũ Đình Tự, Vũ Thị Nhuận lấy Vũ Đình Bộ.

Vũ Công Biên, con thứ sáu cụ Vũ Công Hoán sinh Vũ Công Thìn và 2 gái Vũ Thị Dương lấy Lê Duy Nhiều, Vũ Thị Nuôi lấy Đào Xuân Tố.

Vũ Công Mỗ, con thứ bảy cụ Vũ Công hoán thất truyền.

Vũ Công Diệt, con cụ Vũ Thời Cử, thọ 50 tuổi, ngày giỗ 4 tháng 12 âm lịch, mộ hợp táng với con thứ hai ở đầu ngựa, mả miễu, tự Cẩn Hậu, hiệu Tĩnh Hiên. Bà cụ Vũ Thị Đởn,con gái cụ đồ Nam, chị cụ kép thứ, và bà cụ đẻ ra ông Suông, thọ 84 tuổi, hiệu Diệu Mẫn, mộ ở mả miễu gần mộ cụ Tự, liền mộ bà, sinh 4 trai: Vũ Công Yên, Vũ Công Nhạc, Vũ Công Khai, Vũ Công Tề và 1 gái là Vũ Thị Trai lấy ông Tư Bích xã Phú Khê. Vũ Công Nhạc mất sớm, không có con.

Vũ Công Nghệ, con cụ Vũ Công Trúc, sinh Vũ Công Khoa, Vũ Công Thai, Vũ Công Mưu, Vũ Công Mộ, và 1 gái di cư đến thị xã Tuần La, huyện Lăng Tài. Cụ Nghệ còn có bà ba ở làng Đích Sơn, huyện Kinh Môn, sinh Vũ công Tuần ở quê mẹ.

Vũ Xuân Toàn, còn gọi là Xuân Tuyên, con cụ Vũ Xuân Đồng, làm xã trưởng tục gọi là xã Miên, lấy Vũ Thị Sinh, sinh Vũ Xuân Miên, Vũ Xuân Thinh, Vũ Xuân Cù và thị Thái lấy chồng thuộc chi 5.

Vũ Xuân Tình, con cụ Vũ Xuân Bách, lấy Vũ Thị Nghi người phái mậu, sinh Vũ Thị Chi lấy Vũ Đình Phương chi thứ 3.

Vũ Xuân Thúc, con cụ Vũ Xuân Bách, ấm tử lấy người phái Kỷ sinh Vũ Thị Đặc.

Vũ Xuân Chiểu, cont hứ cụ Vũ Xuân Bách, con có tên là Vũ Xuân Sầm di cư đi sang ở quê mẹ xã Phương Duy Gia Lộc, con cháu ở đây rất đông, phụ chú ở phả hệ.

Vũ Huy Thuyên, con cụ Vũ Huy Tập, lấy Nguyễn Thị Mổ người xã Hoạch Trạch, sinh Vũ Huy Thành, Vũ Huy Thắng gây loạn tảng cư lên ở xã Tình Lam, huyện Yên Sơn. Vũ Huy Thắng sinh Vũ Huy Bình, Vũ Huy Biểu, Vũ Huy Triết, Vũ Huy Cận, Vũ Huy Thành tản cư đến làng đồng bào huyện Yên Sơn, sinh 5 trai.

Vũ Huy Vi, con trưởng cụ Vũ Huy Phản lấy Nguyễn Thị Mổ, sinh Vũ Thị Nhiênvà Vũ Văn Sang lên ở quê bà cụ tại huyện Lục Ngạn.

Vũ Huy Giai, còn tên là Trụ, con thứ cụ Vũ Huy Khản lại đổi tên là Vũ Đắc Dung gặp thời loại di cư lên Thăng Long, sau vào Thanh Hoá, huyện Nội Dương, xã Tràng Vực, đỗ Hương tiến làm tri phủ Kiến Xương, rồi thăng hộ bộ lang trung thăng Tuyên Quang xứ thành hình án sát sứ ti, án sát sứ, hiệu Tốn trai, giỗ ngày 18 tháng 6 âm lịch. Chính thức Vũ Thị Hai, người làng dan loan không có con, thứ thất người tỉnh Thanh Hoá sinh Vũ Huy Hùng, lại lấy bà Nguyễn Thị Sinh, Vũ Đức Nhâm, Vũ Huy Mai sau đổi tên là Vũ Huy Luông, Vũ Huy Lân, lại lấy Nguyễn Thị Chiêu sinh Vũ Huy Quang, Vũ Huy Nguyễn.

Vũ Huy Triệu, con út cụ Vũ Huy Khản tự Bình Khe, hiệu Thống Trực, làm hương sinh, lấy Đào Thị Bần sinh Vũ Huy Khê, Vũ Huy Hào, Vũ Huy Vàng.

Vũ Huy Bích, con cụ Vũ Huy Tịnh, còn tên là Tường, là ấm chiêu văn quán, lấy bà Đào Thị sinh 1 gái là Vũ Thị Châm lấy ông quản điền làng Đan Loan.

Vũ Huy Nhưỡng, còn gọi là Đồi con thứ cụ Vũ Huy Tịnh, thất truyền.

Vũ Huy Sinh, con thứ ba Vũ Huy Tịnh sinh Vũ Huy Doanh, Vũ Huy Bất. Cụ Sinh còn có tên là Dụ.

Đời thứ mười hai:   Vũ Công Khiển, con trưởng cụ Vũ Công Trình, tự Quý Như, hiệu Ôn Hoà. Bà cụ Đào Thị Thảo sinh trai Vũ Trọng Liêu.

Vũ Công Tùng, con thứ cụ Vũ Công Trình, vô tự.

Vũ Công Trúc, con thứ ba cụ Vũ Công Trình, vô tự.

Vũ Công Nhâm, con trưởng cụ Vũ Công Sửu, hiệu Thuần Nhã. Bà cụ Vũ Thị Tiễu sinh ba trai: Vũ Công cự, Vũ Công Bốn, Vũ Công Khả, 3 gái: Vũ Thị Kim, Vũ Thị Tạm, Vũ Thị Hương.

Vũ Công Sáu, con thứ cụ Vũ Công Sửu, thất truyền.

Vũ Công Con, con thứ ba cụ Vũ Công Sửu, thất truyền.

Vũ Công Hảo, con trưởng cụ Vũ Công Dưỡng. Bà cụ Hoàng Thị Nhỡ sinh trai Vũ Công Mỹ, gái Vũ Thị Cân.

Vũ Công Nguyễn, còn gọi là Ngoan, con thứ cụ Vũ Công Dưỡng, tự Nguyên Ngọc, huyện Trưng Cầu. Bà cụ Vũ Thị Dang sinh 2 trai: Vũ Công Nguyện, Vũ Công Hoà và 1 gái Vũ Thị Mớn.

Vũ Công Mùi, con trưởng cụ Vũ Công ngọ, lấy bà Nguyễn Thị Minh, thất truyền.

Vũ Công Tí, con thứ cụ Vũ Công Ngọ thất truyền.

Vũ Công thuẩn, con trưởng cụ Vũ Công Hợi, hiệu Thuần Chất, sinh 1 gái Vũ Thị Muôn.

Vũ Công hỷ, con thứ cụ Vũ Công Hợi, lấy bà Vũ sinh 1 gái.

Vũ Công Bi, con thứ ba cụ Vũ Công Hợi, lấy bà Vũ Thị Hận sinh 2 gái. Cụ còn tên là Tỵ.

Vũ Công Thìn, con cụ Vũ Công Biên lấy 2 vợ sinh 2 gái. Cụ buôn bán ở Hà Nội lấy bà Vũ Thị Thấu sinh Vũ Thị Nhã. Vũ Thị Nhã lấy Vũ Nga sinh Vũ Thị Trứ ở Hà Nội, rồi sang hà Đông, thứ thất Trần Thị Hoà, tức bà tấu, sinh 1gái, Vũ Thị Nội lấy Vũ Đình Ngung.

Vũ Công Yên, tức cụ Lý Chao, con trưởng cụ Vũ Công Diệt, thọ 67 tuổi, ngày giỗ 18 tháng 3, mộ táng ở Mả Miễu, liền mộ cụ Vũ Công Diệt, tự Bình Lang, hiệu Khoát Như. Bà cụ Vũ Thị Lan con gái cụ tư Cận, trưởng tộc là ông Tường Cụ Tú không có anh trai chỉ có 2 con gái là bà Lý Chao và bà khoá Ngung, lập con thứ hai Vũ Công Chù thờ cúng về bên ngoại. Hai cụ bỏ tiền ra bầu hậu ở nhà thờ Tích Thiện, ngày giỗ  họ đem xôi lợn đến để tế ở nhà ông hai Chù. Bà cụ thọ 72 tuổi, giỗ ngày 30 tháng giêng. Mộ táng ở Đồng Cạn, sinh 4 trai: Vũ Công Phiên, Vũ Công Chù, Vũ Công Trang, Vũ Công Điều, 2 gái: Vũ Thị Chao, Vũ Thị Sức. Bà Chao lấy ông Vũ Đăng Ánh sinh Vũ Đăng Phúng. Ông Phúng sinh ông hấu ở Hải Phòng. Bà Sức lấy ông vũ Huy Viên sinh 3 gái, Vũ Thị Vồng lấy Vũ Đình Bình sinh Vũ Thị Gách, Vũ Thị Nhỡ lấy Vũ Xuân Hồ sinh Vũ Thị Vàng, Vũ Thị tý lấy Vũ Nhật Điểm sinh Vũ Nhật Trác, Vũ Nhật Trạc, Vũ Nhật Trịch

Vũ Công Khai, con thứ ba cụ Vũ Công Diệt, thọ 73 tuổi tự Tất thiện, mộ làng ở Mả Miễu, gần mộ cụ Vũ Công Thuận, bà cụ Vũ Thị Hoà, con gái cụ Vũ Đình Cầu sinh 2 trai: Vũ Xuân Huyên, Vũ Xuân Chì. Thứ thất là Tống Thị Tiêm người làng  Ngũ Lão, huyện Phủ Cừ, không có con.

Vũ Xuân Tề, con thứ tư cụ Vũ Công Diệt, thọ 74 tuổi, mộ táng ở Mả Miễu, ngày giỗ 1 tháng 8 âm lịch. Bà cụ mất sớm giỗ ngày 15 tháng 5 âm lịch sinh 2 trai: Vũ Xuân tống, Vũ Xuân Trà, mộ bà cụ ở phía nam, mộ ông Trần ở giữa, mộ ông cụ ở phía Bắc, 3 mộ gần  nhau ở Mả Miễu.

Vũ Xuân Miên, con cụ Vũ Xuân Tuyên sinh 2 gái. Thứ thất sinh Vũ Thị Phái. Vũ Xuân Phái sinh Vũ Xuân thới, Vũ Xuân Thới sinh 1 trai, đi đâu không rõ. Cũ Vũ Xuân Miên còn cò tên là Vũ Quang Khải.

Vũ Xuân Chinh, con thứ cụ Vũ Xuân Tuyên lấy bà Nguyễn Thị Hận sinh Vũ Xuân Mai và Vũ Xuân Chẩm.

Vũ Xuân Cù, con thứ ba cụ Vũ Xuân Tuyên sinh  Vũ Xuân Lâu, Vũ Xuân Cống.

Vũ Xuân Hùng, con trưởng cụ Vũ Xuân Giai, còn tên là Vũ Huy Hổ lấy bà Vũ Thị Tấu sinh Vũ Huy Nghệ, Vũ Huy Cang, Vũ Huy Cung và 2 gái Vũ Huy Quang, Vũ Huy Nguyệt.

Vũ Huy Nhâm, con thứ cự Vũ Huy Giai còn gọi là Vũ Huy Luộng, vô hậu.

Vũ Huy Mai, con thứ ba cụ Vũ Huy Giai, còn gọi là Vũ Huy Lân, năm quân Pháp ra Bình Định đồng bằng Bắc Bộ, ông theo khởi nghĩa Bãi Sậy hy sinh ở đồn Biển Khê, huyện Mỹ Hào.

Vũ Huy khê, con cụ Vũ Huy Triệu sinh Vũ Huy Ấm, tức cụ Khoá Ẩm. Cụ ẩm sinh Vũ Xuân Sở, Vũ Huy Sở sinh Vũ Huy Nhũ. Cụ Kháo mẩ có bá hai ở Hải Phòng sinh Vũ Xuân Dư ở quê mẹ.

Vũ Huy Hào, con thứ cụ Vũ Xuân Triệu, vô hậu.

Vũ Xuân Vãng, con thứ ba cụ Vũ Huy Triệu sinh Vũ Huy Tiều, Vũ Huy Bưu.

Đời thứ 13:   Vũ Trọng Liên, con cụ Vũ Công Khiển, bà cụ Vũ Thị Doanh sinh 1 gái Vũ Thị Hối. Thứ thật Vũ Thị Cóc. Bà ba Vũ Thị Bột, bà tư Vũ Thị Đĩnh đểu kh6ong có con. Bà hối lấy Vũ Đình Mè sinh 1 gái là Vũ Thị Mò giả cho ông Cả Tục sinh ông Cai Rổng và ông Kễnh, nguyên họ Nguyễn đổi sang họ Vũ.

Vũ Công Cự, con trưởng cụ Vũ Công Nhâm, hiệu Tín Thuận, bà cụ Vũ Thị Nhỡ sinh 3 gái. Vũ Thị Lợi lấy Vũ Đăng Thuêyn, Vũ Thị Thu lấy Vũ Huy Độ, Vũ Thì Tình lấy Vũ Đình Chí.

Vũ Công Bốn, con thứ hai cụ Vũ Công Nhâm, thất truyền.

Vũ Công khả, con thứ ba cụ Vũ Công Nhâm, thất truyền.

Vũ Công Mỹ, con trưởng cụ Vũ Công Hảo, lấy Vũ Thị Tấm sinh vũ Công Ương.

Vũ Công Nguyện, con cụ Vũ Công nguyễn, tức cụ Lâu, sinh Vũ Công Chu, Vũ Công Tất.

Vũ Công Hoà, con cụ Vũ Công Nguyên, thất truyền.

Vũ Công Phiên, con trưởng Vũ Công Yên, thọ 49 tuổi. Tự Biền Phong, hiệu Cát Hiên, ngày giỗ 7 tháng 7 âm lịch, mộ táng Mé Cồn đường Nam Mả Miễu, sinh 1 trai Vũ Xuân Phổ, 2 gái Vũ Thị Ty lấy Vũ Đình Nghiễn sinh 1 gái Vũ Thị Tỉnh lấy Vũ Thị Nyểu, chi 5, Vũ Thị Ốc lấy Vũ Đăng Tân, chi 5 sinh Vũ Thị Nhai, Vũ Đăng Hợp, Vũ Đăng Đức, Vũ Thị Khuê, Vũ Thị Vấn, Vũ Thị Bẩy.

Vũ Công Chù, con thứ hai cụ Vũ Công Yên, mất sớm, tữ chu cấp, hiệu Trực Hiên, ngày giỗ 13 tháng 3, mộ táng ở Cồn Mả Miễu, phái bên Đông. Bà là Vũ Thị De, con gái Cụ đồ Sản, em ông Cả Đoá, mất sớm, hiệu Diệu Ý, ngày giỗ 19 tháng 2 âm lịch sinmh 2 trai Vũ Công Điểm, Vũ Công Tác. Vũ Công trang, con thú ba cụ Vũ Công Yên. Bà cụ là Vũ Thị Triều sinh 2 trai: Vũ Công Dẹp, Vũ Công Dục, đều không có con, gái là Vũ Thị lan lấy Vũ Duy Cân, sinh 1 gái là Vũ Thị Kéo lấy Vũ Đằng Loan.

Vũ Xuân Huyên, con trưởng cụ Vũ Công khai, thọ 42 tuổi Tự Bá thi, mộ ở Mả Miễu, ngày giỗ 15 tháng 3 âm lịch. Bà cụ alà Phạm Thị Mển sinh 5 trai: Vũ Xuân Kính, Vũ Xuân Khánh, Vũ Xuân Chuông, Vũ Xuân Thú, Vũ Xuân Tâm, 2 gái: Vũ Xuân Túc trước lấy Tóng Đăng Quảng, sau lấy Vũ Kính người làng Tiền Tử sinh 1gái là Vũ Thị Hùng lấy ông Bá Đột người làng Phú Cốc, Khoái Chân.

Vũ Xuân Chì. Con thứ hai cụ Vũ Xuân Khai, mất sớm bà cụ người làng Phương Khê, sinh 1 trai Vũ Xuân Chụng. Mộ cụ ở Mả Miễu, gần mộ cụ Huyên, giữa hai cụ bà Vấn, mộ 3 anh chị em liền nhau.

Vũ Xuân Tống, con trưởng  cụ Vũ Công Tề, thọ 63 tuổi Tự Tống hiên, giỗ ngày 6 tháng 3 âm lịch, mộ ở Mả Miễu. Bà cụ Vũ Thị Thứ con gái cụ Cửu Vĩnh sinh 6 trai: Vũ Xuân Sùng, Vũ Xuân Dũng, Vũ Xuân Dĩnh. Vũ Xuân Chỉ, Vũ Xuân Thận tức Lược, tức Năm, Vũ Xuân Mùi tức sáu.

Vũ Xuân Trần, con thứ cụ Vũ Công Tề, thọ 69 tuổi, giỗ ngày 15 tháng 12 âm lịch. mộ ở Mả Miễu. BÀ cụ là Vũ Thị Nhi, con cụ Kỳ Ngỏ đông, sinh 4 trai: Vũ Xuân Bì, Vũ Xuân Bượi, Vũ Xuân Quất, Vũ Xuân Lựu, 2 gái Vũ Thị Cánh, Vũ Thị Phan.

Vũ Xuân Mai, con cụ Vũ Xuân Chinh sinh Vũ Xuân Lưỡng, Vũ Xuân Nhưỡng, Vũ Xuân Tụ.

Vũ Xuân Thẩm, con thứ cụ Vũ Xuân Chinh sinh Vũ Xuân Hóc, Vũ Xuân Hải.

Vũ Xuân Lưu, con Vũ Xuân Cù sinh Vũ Xuân Thuỷ.

Vũ Xuân Nghệ, con cụ Vũ Xuân Hỗ. Bà cụ họ Lê sinh Vũ Xuân Nghễ, Vũ Xuân Chầu, Vũ Xuân Hon, Vũ Xuân Lang.

Vũ Xuân Quang, còn gọi là Cang con thứ hai cụ Vũ Xuân Hỗ sinh Vũ Xuân My, Vũ Xuân Mỡ.

Vũ Xuân Cung, con thứ ba cụ Vũ Xuân Hổ không rõ.

Vũ Xuân Ấm, con cụ Vũ Xuân Khê sinh Vũ Xuân Sở và Vũ Xuân Dư ở Hải Phòng.

Vũ Xuân Tiêu, con trưởng cụ Vũ Xâun Vàng, còn gọi là cụ Tự Liều sinh Vũ Xuân Khương, Vũ Xuân Giáp, Vũ Xuân Ba.

Vũ Xuân Bưu, con thứ cụ Vũ Xuân Vàng.

Vũ Xuân Thảo, con cụ Vũ Huy Bất di cư lên Đạp Cầu thỉnh Bắc Ninh.

Đời thứ 14:  Vũ Công Uông con cụ Vũ Công Mỹ sinh Vũ Công Súc, Vũ Công Kiệm, 1 gái lấy Vũ Huy Cán, Vũ Công Súc vô hậu.

Vũ Công Thu con trưởng Vũ Công Nguyên sinh 3 trai Vũ Xuân Cau, Vũ Xuân Khang, Vũ Xuân Tới.

Vũ Công Tất con thứ cụ Vũ Công Nguyên. Bà cụ là con cụ Khác Sĩ sinh 2 trai Vũ Xuân Thể, Vũ Xuân Thống, 3 gái là Vũ Thi Ngoan, Vũ thị Ninh, Vũ Thị Mổ.

Vũ Xuân Phổ con cụ Vũ Xuân Phiên, thọ 74 tuổi, tự Đức Thi,  hiệu Phổ Sinh. Chính thất Vũ Thị Lỳ con cụ Vũ Huy Tố, thọ 63 tuổi, ngày giỗ 10 tháng 6, sinh 2 gái. Vũ Thị Lộc lấy Vũ Huy Phú, phái Kỷ sinh Vũ Thị Cúc, Vũ Thị Thọ lấy Vũ Đăng Khánh sinh Vũ thị Chung, Vũ Thị Thành, Vũ Đăng Thật, Vũ Thị Thà. Thứ thất Vũ Thị Mau, con gái cụ Lý Thêu làng An Lâu, huyện Thanh Miện, thọ 48 tuổi, hiệu Diệu Mạo, ngày giỗ 18 tháng 3 âm lịch sinh 1 trai Vũ Thiên Hựu, 1 gái Vũ Thị Đa lấy Vũ Huy Minh phái Kỷ, sinh Vũ Thị Thành, Vũ Thị Nhân, Vũ Thái Sơn, Vũ Hồng hà. Vũ Thị Thành là bác sĩ lấy đại tá Nguyễn Ngọc Quý, người huyện Lâm Thao, Phú Thọ. Vũ Thị Nhân giáo viên lấy Trần Khương kỹ sư người xã Nam Chính huyện Nam Sách. Kế thất Vũ Thị Nghĩa, phái Kỷ sinh 2 trai Vũ Thiên tích, Vũ Xuân Quang, 2 gái. Vũ Thị Ngà, phó giám đốc ngân hàng lấy Nguyễn  Quang Tiết, trung tá hải quân, người xã Tân Tường, huyện Cẩm Giàng, Vũ Thị Liên phó Tiến sĩ ngân hàng, lấy Đào Đức Bình kỹ sư, người thành phố Vinh.

Vũ Xuân Điểm con trưởng cụ Vũ Công Chư, thọ 54 tuổi ngày giỗ 20 tháng , mộ ở mã miễu. Chính thất Vũ Thị Chính, con gái cụ Khoá Dẩn, người Nhuận Đông, thọ 40 tuổi, hiệu Diệu Chính mộ ở mả miễu sinh Vũ Xuân Khuuyên, Vũ Xuân Miễu, Vũ Xuân Bảng tức Công, 2 gái. Vũ Thị Biển lấy Vũ Đăng Khánh sinh Vũ Thị Hiển lấy con ông Vũ Đăng Huệ, Vũ Thị Biên lấy Vũ NHật Trác bị Pháp bắn chết. Kết thất Vũ Thị Sân con cụ Kỳ sinh 1 trai Vũ Xuân Rể, 1 gái Vũ Thị Ngọ.

Vũ Xuân Tác con cụ Vũ Xuân Chù, bà cụ Vũ Thị Hến, con cụ Ba còn, sinh Vũ Xuân Te. Ông Tác mất sớm.

Vũ Xuân Kính con trưởng cụ Vũ xuân Huyên, lấy bà Phó ở Thanh Hà sinh Vũ Xuân Đức và 2 gái Vũ Thị Cúc và Vũ Thị Thanh.

Vũ Xuân Khánh con thứ hai cụ Vũ Xuân Huyên lấy bà Vũ Thị Thêu ở Phát Diệm sinh 2 trai Vũ Xuân Long, Vũ Xuân Quý, 1 gái Vũ Thị Thu. Sau lấy bà Vũ Thị Dần sinh Vũ Thị Mười, Vũ Thành Hoạ và Vũ Thành Vững.

Vũ Xuân Thư con thứ tư cụ Vũ Xuân Huyên lấy bà Vũ Thị Bình sinh 2 trai Vũ Xuân tĩnh, Vũ Xuân Mạc. Bà kế là Vũ Thị Nhớn sinh Vũ Xuân Lợi (liệt sĩ chống Pháp) Vũ Xuân Cường, Vũ Xuân Chính.

Vũ Xuân Tâm con thứ 5 cụ Vũ Xuân Huyên lấy bà Vũ Thị Cửu, người Phương Khê sinh Vũ Xuân Lý, Vũ Xuân Dinh, 2 gái Vũ Thị Hoa, Vũ Thị Nụ.

Vũ Xuân Trung con cụ Vũ Xuân Chì, vợ là Vũ Thị Ngăm sinh Vũ Xuân Lương, 3 gái Vũ Thị Trang, Vũ Thị Hiếu, Vũ Thị Hạnh.

Vũ Xuân Trùng con trưởng cụ Vũ Xuân Tống, thọ 49 tuổi giỗ ngày 24 tháng 9 âm lịch, mộ ở mả miễu. Bà cụ là Vũ Thị Gởi con cụ Vũ Xuân Giản, ngày giỗ 11 tháng 11 âm lịch, mộ ở mả miễu sinh 2 trai Vũ Xuân Sung, đại đội trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, liệt sĩ. Vũ Xuân Ngái, 1 gái Vũ Thị Lượm lấy Lê Văn Giá. Bà kế Vũ Thị Quất sinh Vũ Thị Lan, Vũ Thị Nộm.

Vũ Xuân Dũng con thứ cụ Vũ Xuân tống, lấy Vũ Thị Hoài, con gái Vũ Đình Gián, chi 5, sinh 3 trai Vũ Xuân Uy, mất sớm đã có 2 con Vũ Xuân Việt, Vũ Xuân Côi; Vũ Xuân Mạnh, Vũ Xuân Khuê và 4 gái: Vũ Thị Nhĩnh, Vũ Thị Quoải, Vũ Thị Xuân, Vũ Thị Bảy.

Vũ Xuân Dĩnh con thứ ba cụ Vũ Xuân Tống, giỗ ngày 24 tháng 9 âm lịch, lấy Vũ Thị Bốn, con gái cụ Ba phấn sinh Vũ Xuân Phụ, Vũ Xuân Sớm tức thị , Vũ Thị Sửu, Vũ Thị Hiên.

Vũ Xuân Chỉ con thứ tư cụ Vũ Xuân Tống, lấy Vũ Thị Bượu, con gái Vũ Huy Vẽ sinh Vũ Xuân Tửu tức Thu, Vũ  Xuân Nùng, Vũ Xuân Lĩnh, Vũ Thị Nội.

Vũ Xuân Lược tức Năm con thứ năm cụ Vũ Xuân Tống, lấy Vũ Thị Cổn con gái cụ Khoá Triết làng Nhuận Trạch ainh 4 trai Vũ Xuân Lập, Vũ Xuân Sơn, Vũ Năng Anh, Vũ Quốc Thảo gái có Vũ Thị Lan, Vũ Thị Lung, Vũ Thị Soà, Vũ Thị Hiền.

Vũ Xuân Mùi tức Sáu, con thứ 6 cụ  Vũ Xuân Tống ấy Lưu Thi Sinh, người Thị xã Hải Dương sinh Vũ Thị Liễu, Vũ Thị Giao, Vũ Thị Tuyết.

Vũ Xuân Bì con trưởng cụ Vũ Xuân Trần lấy Vũ Thị Thai sinh 4 gái.

Vũ Xuân Bươi con thứ cụ Vũ Xuân Trần lấy Vũ Thị con và Vũ Thị Tý sinh trai Vũ Xuân Hồ, gái Vũ Thị Độ.

Vũ Xuân Quất con thứ ba cụ Vũ Xuân Trần lấy Vũ Thị Vân sinh Vũ Xuân Hồng, Vũ Thị Quân.

Vũ Xuân Lựu con thứ tư cụ Vũ Xuân Trần lấy Vũ Thị Nhâm sinh Vũ Xuân Đoàn, Vũ Xuân Giang, Vũ Xuân Duân, Vũ thị Nhi, Vũ Thị Nhị.

Vũ Xuân Lưỡng con cụ Vũ Xuân Mai sinh Vũ Xuân Sinh, Vũ Xuân Sênh.

Vũ Xuân Nhương con thứ cụ Vũ Xuân Mai vô hậu.

Vũ Xuân Tụ  con thứ ba cụ Vũ Xuân Mai sinh Vũ Xuân Mựu.

Vũ Xuân Hoè con trưởng cụ Vũ Xuân Trẩm, sinh Vũ Xuân Tích, Vũ Xuân Thỉnh.

Vũ Xuân Thuỷ con cụ Vũ Xuân Lưu sinh Vũ Xuân Thạch, Vũ Xuân Bán.

Vũ Xuân Nghễ con trưởng cụ Vũ Xuân Nghê sinh Vũ Xuân Báo.

Vũ Xuân Chầu con thứ cụ Vũ Xuân Nghệ sinh Vũ Xuân Cừu, Vũ Xuân Chiên, Vũ Xuân Chư, Vũ Thị Mổ.

Vũ Xuân Hon con thứ ba cụ Vũ Xuân Nghê sinh Vũ Xuân Pha.

Vũ Xuân Lang con thứ tư cụ Vũ Xuân Nghê sinh Vũ Xuân Bái, Vũ Xuân Viên, Vũ Xuân Thác, Vũ Xuân Hồ.

Vũ Xuân My con Vũ Xuân Quang.

Vũ Xuân Khương con cụ Vũ Xuân Tiêu.

Vũ Xuân Giáp con cụ Vũ Xuân Tiêu.

Vũ Xuân Ba con thứ ba cụ Vũ Xuân Tiêu.

Đời thứ 15

Vũ Xuân Kiệm con cụ Vũ Công Uông sinh Vũ Xuân Hoát, Vũ Xuân Hạnh.

Vũ Xuân Cau con cả cụ Vũ Xuân Chu sinh Vũ Xuân Thuận, Vũ Xuân Nhu.

Vũ Xuân Khay, con cụ Vũ Xuân Chu, sinh Vũ Xuân Thuận, Vũ Xuân Nhu.

Vũ Xuân Lợi, con cụ Vũ Xuân Chu.

Vũ Xuân Thể, con cụ Vũ Xuân Tất, sinh Vũ Xuân Cách, Vũ Xuân Cải, Vũ Xuân Tư.

Vũ Xuân Thống, con cụ Vũ Xuân Tất, sinh Vũ Xuân Triệu, Vũ Xuân Toàn, Vũ Xuân Tùng.

Vũ Thiên Hựu, con cụ Vũ Xuân Phổ, sinh Vũ Xuân Bảo.

Vũ Thiên Tích, con cụ Vũ Xuân Phổ, sinh Vũ Xuân Nam.

Vũ Xuân Quang, con thứ ba cụ Vũ Xuân Phổ, sinh Vũ Xuân Kiêm.

Vũ Xuân Khuyên, con  cụ Vũ Xuân Diễn sinh Vũ Xuân Hữu, Vũ Xuân Hiếu.

Vũ Xuân Miễu, con cụ Vũ Xuân Diễn, sinh Vũ Xuân Trách.

Vũ Xuân Bảng, con cụ Vũ Xuân Diễn, sinh Xuân Anh, Khanh, Bình Giang.

Vũ Xuân Te, con cụ Vũ Xuân Tác.

Vũ Xuân Đức, con cụ Vũ Xuân Kính.

Vũ Xuân Nhàn, con cụ Vũ Xuân Khánh.

Vũ Xuân Long, con cụ Vũ Xuân Chương.

Vũ Xuân Quý, con cụ Vũ Xuân Chương.

Vũ Xuân Hoạ, con cụ Vũ Xuân Chương.

Vũ Thành Vưng, con cụ Vũ Xuân Chương.

Vũ Xuân Tính, con cụ Vũ Xuân Thư.

Vũ Xuân Mạc, con cụ Vũ Xuân Thư.

Vũ Xuân Cường con cụ Vũ Xuân Thư.

Vũ Xuân Chín con cụ Vũ Xuân Thư.

Vũ Xuân Lý con cụ Vũ Xuân Tâm.

Vũ Xuân Dinh con cụ Vũ Xuân Tâm.

Vũ Xuân Lương con cụ Vũ Xuân Chung.

Vũ Xuân  Ngải con cụ Vũ Xuân Sùng.

Vũ Xuân Mạnh con cụ Vũ Xuân Dung.

Vũ Xuân Khuê con cụ Vũ Xuân Dũng.

Vũ Xuân Phụ con cụ Vũ Xuân Dĩnh.

Vũ Xuân Phi con cụ Vũ Xuân Dịnh.

Vũ Xuân Từu con cụ Vũ Xuân Chỉ.

Vũ Xuân Nùng con cụ Vũ Xuân Chỉ.

Vũ Xuân Lĩnh con cụ Vũ Xuân Chỉ.

Vũ Xuân Lập con cụ Vũ Xuân Lược.

Vũ Xuân Sơn

Vũ Xuân Anh con cụ Vũ Xuân Lược.

Vũ Xuân Thảo con cụ Vũ Xuân Lược.

Vũ Xuân Hồ con cụ Vũ Xuân Bươi.

Vũ Xuân Hồng con cụ Vũ Xuân Quất.

Vũ Xuân Đoàn con cụ Vũ Xuân Lưu.

Vũ Xuân Giang

Vũ Xuân Duân

Vũ Xuân Sình, Vũ Xuân Sênh con cụ Vũ Xuân Lượng vô tự.

Vũ Xuân Mưu con cụ Vũ Xuân Tụ sinh Vũ Xuân Long , Vũ Xuân Phong .

Vũ Xuân Cảnh, Vũ Xuân Thanh.

Vũ Xuân Tình con cả cụ Vũ Xuân Hoè sinh Vũ Xuân Thế, Vũ Xuân Tế.

Vũ Xuân Thỉnh con cụ Vũ Xuân Hải sinh Vũ Xuân Thoảng, Vũ Xuân Thịnh.

Vũ Xuân Thạch con cụ Vũ Xuân Thuỷ sinh Vũ Xuân Sơn.

Vũ Xuân Bàn con cụ Vũ Xuân Thuỷ sinh.

 

5.     Người phái Đinh họ Vũ làng Mộ Trạch sang ở xã Phương Duy huyện Gia Lộc.

 

Cụ Vũ Xuân Thiêu tức Vũ Xuân Xầm, thuộc đời thứ 11 phái Đinh, họ Vũ làng Mộ Trạch, là con cụ Vũ Xuân Bách, tức Vũ Xuân Thì, sang ở quê mẹ làng Phương Duy, lập nhà thờ đặt tên là “Nhuận trạch đường”, đến nay con cháu rất đông. Sau đây là sơ đồ phả hệ của nhà thờ “Nhuận Trạch đường”. (Lược ghi theo phả họ Vũ Phương Duy).

Bia mộ tổ của “Thực Đức Đường”.

Ngày 24/4/1992 ông Húc cho xem bia bằng hòn gạch, nói là có người đào được ở ngoài. Bia ghi:

Tiền tổ khảo, tân dậu khoa giải nguyên, cơ nhiệm kinh môn phủ, tri phủ, phỉ thăng Nghệ An, thanh hình hiến sát ti, hiến sát phó sứ, Vũ tiên sinh, tự Hữu Hỉ, hiệu Tuần Lý phủ quân, Thực đức đường thư tổ.

Hòn gạch này ông Hưu giữ

Xem cụ Vũ Công Tạo đời thứ 7 trang218.

6.     5. PHÁI MẬU (PHÁI THỨ NĂM)

Nhà thờ Diên Trạch đường.

Đời thứ nhất: Vũ Quốc Trung, khai tổ nhà thờ Diên Trạch đường. Bà cụ Vũ Thị Hiên sinh Vũ Thụ Ích.

Đời thứ hai:  Vũ Thụ Ích, con cụ Vũ Quốc Trung, đỗ hương cống, làm chức giảng dụ. Táng tại cồn ngự bình. Bà cụ Vũ Thị Tí sinh Vũ Thu Giao. (thợ số 29, trang 453).

Đời thứ ba: Vũ Thụ Giao, con cụ Vũ Thu Ích, táng tại cồn Vườn Thờ (thất lạc), cụ bà Vũ Thị Hiên sinh Vũ Đình Chí.

Đời thứ bốn: Vũ Đình Chỉ, con cụ Vũ Thụ Giao, táng tại Mã Dậm, cụ bà Vũ Thị Vĩnh, chi 5 sinh Vũ Dụ.

Đời thứ năm:  Vũ Dụ, con cụ Vũ Đình Chỉ, đỗ hương cống, làm quan chức thống chính sứ, tước Lộc Khê tử, tặng chức Lễ Bộ thượng thư, thiếu bảo lộc quận công, hiệu Phúc Trai, thọ 60 tuổi, an táng tại Vườn Dầm, làng Trạch Xá.

Cụ thượng thư Vũ Công Đạo có thơ:

                                  Học vấn uyên thâm ngộ thánh quân,

                                  Huấn danh, bửu bính, cố sư thần

                                  Nhất thì mạc hãm khuy, từ, hiếu

                                  Phú lộc do lưu cấp hãn nhân.

Dịch nghĩa:

                                  Học vấn uyên nguyên gặp thánh quân

                                  Huân danh nổi tiếng cố sư thần.

                                  Một thời không thiếu điều từ hiếu

                                  Phúc lộc còn lưu đến hậu nhân.

 

Cụ bà là Vũ Thị Tiến, con cụVũ Chỉ, chi 3, sinh 3 trai: Vũ Đăng Long, Vũ Phú Phượng, Vũ Phan Lâm, và Vũ Thị Tụ.

Đời thứ sáu: Vũ Đăng Long con trưởng cụ Vũ Dự, 20 tuổi đỗ giải nguyên, 23 tuổi đỗ Tiến sĩ, khoa Bính Thân (1656). Khoa ấy cả nước lấy đỗ 6 Tiến sĩ, thì làng ta chiếm 3, đó là Vũ Trại Lục, Vũ Công Lượng, Vũ Đăng Long. Làm quan chức giám sát đạo Thanh hoá, tước Nam, tặng chức công khoa cấp sự trung. An táng tại đống Ích. Bà cụ táng ở Lăng thần.

Vũ Công Đạo có thơ:

Thiếu niên đường đệ dự triều loan,

Khảng khái phong chì, nhận cử đán.

Tòng thụ hữu chung, thiên hạ điếu.

Tổ lai trung hiếu lưỡng nan toan.

Dịch nghĩa: Tuổi trẻ đã từng dự  triều ban

Khảng kahí giữ bền nhiệm điều nhân.

Làm việc đến cùng thiên hạ tiếc.

Từ xưa trung hiếu khó vẹn toàn.

Bà cụ Vũ Thị Hiến sinh Vũ Đăng Đường, Vũ Thị Thế.

Vũ Phụ Phượng con thứ hai cụ Vũ Dự, làm quan chức đại lý. Cụ bà Vũ Thị Thị sinh Vũ Trọng Uẩn, Vũ Thị Lý, Vũ Thị Mơ, Vũ Thị Sính và Vũ Phó.

Vũ Phán Lân, con thứ ba cụ Vũ Dự, ấm quan viên tử.

Đời thứ bảy:   Vũ Đăng Đường, con cụ Vũ Đăng Long, đỗ hương cống, làm tham nghị xử Tuyên Quang, lấy Vũ Thị Thật con cụ Tiến sĩ Vũ Duy Đoán, chi 5, sinh Vũ Đăng Thai, Vũ Đăng Tuấn, Vũ Đăng Liên, Vũ Đăng Cơ.

Vũ Đăng Uẩn, con trưởng cụ Vũ Phụ Phương, tặng chánh Vĩ Uý, lấy con cụ Vũ Duy Lăng chi 3 sinh Vũ Bá Thục, lại lấy Vũ Thị Lở, chi 5, sinh Vũ Duy Hỉ, Vũ Duy Lệ.

Vũ Phố, con thứ hai cụ Vũ Phụ Phương, đỗ Hương tiến, làm huấn đạo phủ Thanh Hoà, lấy Vũ Thị Con, phái đinh, sinh 1 trai là Vũ Sanh.

Đời thứ tám.

Vũ Đăng Thai, con cụ Vũ Đăng Đường, đỗ nho sinh, bà cụ Vũ Thị Phi, chi 3, sinh Vũ Duy Quỷ, Vũ Đăng Lầu, Vũ Đăng Đệ, Vũ Thị Khai. Thứ thất, Vụ Thị Vòng, chi 3, sinh Vũ Đăng Gián, Vũ Đăng Dung.

Vũ Đăng Tuấn, con thứ cụ Vũ Đăng Đường, đỗ nho sinh, làm mộc hoàng sở sứ. Cụ bà Vũ Thị Hồ, phái tân sinh Vũ Đăng Huân, Vũ Thị Trương.

Vũ Đăng Liên, con thứ cụ Vũ Đăng Đường, đỗ nho sinh.

Vũ Đăng Cơ, con cụ Vũ Đăng Đường, lấy Vũ Thị Hiên phái đinh, ấm quan viên tử lấy Vũ Thị Hiếu, phái đinh sinh 2 gái.

Vũ Bá Thục, con trưởng cụ Vũ Đăng Uẩn, đỗ hương cống, làm quan Thái Bậc tự khanh xứ Thanh Hoá, tước Thị trạch bá, lấy Vũ Thị Vinh, chi 2, sinh Vũ Thị Bình, sau lại lấy Hoàng Thị Ngọc, người xã Phù Sinh, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, con đô đốc Hoàng Cổng sinh Vũ Bá Huyền, Vũ Bá Hoành và Vũ Thị Cương.

Vũ Duy Hỉ, con cụ Vũ Trung Uẩn ( xem bổ sung trang 269).

Vũ Duy Lệ, con út cụ Vũ Duy Uẩn, đỗ sinh đồ làm tham nghị sứ Lạng Sơn, lấy Nguyễn Thị Sáng, người Thanh Hoá, sinh con gái là Vũ Thị Sáng.

Đờì thứ chín: Vũ Đăng Quỹ, con trưởng cụ Vũ Đăng Thai, đỗ hương cống, lấy Vũ Thị Thiềm chi 5, sinh Vũ Thị Tộ, Vũ Thị Thân, Thứ thất Vũ Thị Mơ, người Tế Cầu, huyện Vĩnh Lại, sinh Vũ Đăng Cử, Vũ Thị Tình, vợ Ba người Thôn Hạ sinh Vũ Đăng Tháp, Vũ Thị Mực.

Vũ Đăng Lầu, con thứ cụ Vũ Đăng Thai, đỗ sinh đồ, lấy Vũ Thị Tình, chi 2, sinh Vũ Đăng Các, Vũ Đăng Tiệp, Vũ Thị Quảng, Vũ Thị Tính, Vũ Thị Chính ( hiện giờ chỉ còn con cháu của Vũ Đăng Quỷ và Vũ Đăng Lâu).

Vũ Đăng Đệ, con thứ 3 cụ Vũ Đăng Thai, lấy người thôn hạ sinh 1 gái.

Vũ Đăng Giám, con thứ 4 cụ Vũ Đăng Thai, đỗ Hương tiến.

Vũ Đăng Dụng, con út cụ Vũ Đăng Thai, vô tự.

Vũ Đăng Xuân, con cụ Vũ Đăng Tuấn, lấy Vũ Thị Sô, phái tân, sinh Vũ Đăng Hoa, Vũ Đăng Lễ, Vũ Thị Diễn.

Vũ Bá Huyền, con cụ Vũ Bá Thục lấy Vũ Thị Sính sinh Vũ Bá Trấn, Vũ Bá Trân, Vũ Bá Trung, Vũ Thị Tiên.

Vũ Bá Hoành, con cụ Vũ Bá Thục, lấy người xã Phú An, huyện Đường Hào, sinh Vũ Bá Anh, Vũ Bá Khảo, Vũ Bá Thống, Vũ Thị Tình, Vũ Thị Bỉnh.

Đời thứ mười:  Vũ Đăng Cử, con trưởng cụ Vũ Đăng Quỹ, làm cai hạp, lấy người họ Nguyễn, thôn hạ, sinh Vũ Đăng Mẫn, lại cơ thứ thất, sinh Vũ Đăng Cần, lấy bà ba, sinh Vũ Đăng Mẫu.

Vũ Đăng Tháp, con thứ cụ Vũ Đăng Quỹ, dạy học và đến ở xã Trần Xá, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam, hiện còn con cháu là Vũ Bá Liễu, Vũ Bá Thính ở nhà máy hoạ quả thành phố Nam Định.

Vũ Đăng Tác, con trưởng cụ Vũ Đăng lầu, đỗ hương cống, tri phủ Kỳ Sơn, thuộc tỉnh Hoà Bình, và huyện Kim Động thuộc tỉnh Hưng Yên, lấy Vũ Thị Đính, chi 5, sinh Vũ Thị Khoáng. Thứ thất Nguyễn Thị Oánh, người làng Hoạch trạch sinh Vũ Đăng Nguyên, Vũ Đăng Đoạn, Vũ Đăng Huân, Vũ Thị Tiến, lấy người phái tân, sinh Vũ Thị khoan. Lại lấy Vũ Thị Oánh, người Đan Loan, sinh Vũ Đăng ban, Vũ Đăng Thiên, Vũ Thị Thiệp. Lại lấy Nguyễn Thị Nhẫn, người Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, trú quán Càu Ngàng, tỉnh Hưng Yên, sinh Vũ Đăng Khoát, Vũ Thị Thân, Vũ Thị Tín.

Vũ Đăng Tiệp, con cụ Vũ Đăng Lầu, đỗ hương cống, lấy Vũ Thị Quyên, phái tân, sinh Vũ Bá Hách, Vũ Bá Cốt, Vũ Bá Thát, Vũ Thị Khoảnh, Vũ Thị Kình, Vũ Thị Nhiêm, Vũ Thị Quán. Lại lấy Vũ Thị Tích sinh Vũ Bá Lự, Vũ Bá Lô, Vũ Bá Duyệt.

Vũ Đăng Hoa, con cụ Vũ Đăng Xuân, lấy người họ Nguyễn ở Trạch xá, sinh Vũ văn Chính, Vũ Văn Tỵ, Vũ thị Thuế, Vũ Thị Khoá.

Vũ Đăng Lễ, con cụ Vũ Đăng Xuân lấy Vũ Thị Dụ, người xã Hoa Hằng, huyện Gia Lộc, sinh Vũ Thị Thắm.

Vũ Bá Trấn, con cụ Vũ Bá Huyền, lấy Đoàn Thị Nghiêm, con cụ Đoàn Nghị, cụ dạy học, lập gia đình ở xã Phú đa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Vũ Bá Trân, Vũ Bá Hồng, Vũ Bá Huyền, Vũ Bá Thông, Vũ Bá Khảo, Vũ Bá Ánh, Vũ Bá Hoành (không rõ). Con cụ Vũ Bá Thông ở Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về nhận họ năm 1990.

Đời thứ mười một: Vũ Đăng Mẫn, con cụ Vũ Đăng Cử, lấy người thôn hạ lập, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình sinh Vũ Thị Ưu, Vũ Thị xã, Vũ Thị Ngữ.

Vũ Đăng Cần, con cụ Vũ Đăng Cứ, lấy Vũ thị Hồi, phái tân sinh Vũ Đăng Sinh, Vũ Đăng Minh, Vũ Đăng Quang, Vũ Thị Ti.

Vũ Đăng Mẫu, con cụ Vũ Đăng Cử (không rõ).

Vũ Đăng Nguyên, con cụ Vũ Đăng Các, tri huyện Hữu Lũng tỉnh Bắc Giang, lấy Vũ Thị Mỗ, phái tân sinh Vũ Đăng Tứ, Vũ Thị Hảo, Vũ Thị Thiều, Vũ Thị Hài. Lại lấy Vũ Thị Doãn, người hiệu Siêu Loại, tỉnh Bắc Ninh, sinh Vũ Đăng Xá, Vũ đăng Môn, Vũ Thị Man.

Vũ Đăng Huân, con cụ Vũ đăng các, lấy người họ Nguyễn xã An Lâu, sinh Vũ đăng San, Vũ Đăng Huyên, Vũ Thị Khiết, Vũ Thị Thẩm.

Vũ Đăng Ban, con cụ Vũ Đăng Các, lấy Phạm Thị Duyên xã Hoạch Trạch, sinh Vũ Đăng Quyên, Vũ Thị Yến, Vũ Thị Yên.

Vũ Đăng Triên, con cụ Vũ Đăng Các, lấy Vũ Thị Lục chi 3, sinh Vũ Thị Oanh, Vũ Duy Bách.

Vũ Đăng Khoát, con cụ Vũ Đăng Các, lấy Vũ Thị Nhâm phái Kỷ, sinh Vũ đăng Điếm, Vũ Đăng Tiềm.

Vũ Bá Hách, con cụ Vũ Đăng Tiệp (không rõ).

Vũ Bá Cốt, con cụ Vũ Đăng Tiệp, lấy Vũ Thị Nhồi, chi 3 sinh Vũ Bá Bái.

Vũ Bá Thất, con cụ Vũ Đăng Tiệp, lấy Vũ Thị Mích, phái đinh, lại lấy Lê Thị Mỗi, sinh Vũ Thị Chu.

Vũ Bá Lự, con cụ Vũ Đăng Tiệp, lấy Vũ Thị Thay, sinh Vũ Văn Diễm, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Thâu, vũ Thị Thuyết.

Vũ Bá Nô, con cụ Vũ Đăng Tiệp, lấy Nguyễn Thị Vạ, người Nhuận Trạch, sinh Vũ Bá Vân, Vũ Thị Tí, Vũ Thị Cô.

Vũ Bá Duyệt, con thứ 6 cụ Vũ Đăng Tiệp, lấy người họ Nguyễn, xã An Đông, huyện lang tài, tỉnh Bắc Ninh, sinh Vũ Thị Tí, Vũ Thị Dị.

Vũ Văn Thinh, con trưởng Vũ Đăng Hoà sinh Vũ Đăng Hưởng.

Vũ Đăng Ti, con cụ Vũ Đăng Hoà, sinh Vũ Đăng Nghĩa, Vũ Quý Phương, cụ Vũ Văn Chinh, Vũ Đăng Ti, nhà nghèo, tránh loạn ra dạy học ở xã Tự Đa, huyện Kinh Môn, con cháu ở đó và ở Quang Tiền.

Đời thứ mười hai:  Vũ Đăng Sinh, con trưởng cụ Vũ Đăng cần, lấy Vũ thị Dần, phái tân, sinh Vũ Đăng Nhân, Vũ Thị Huyền, Vũ Thị Nghĩa, Vũ Đăng Thuy.

Vũ Đăng Minh, con cụ Vũ Đăng Cần, đỗ tú tài, lấy Vũ Thị Com, thôn hạ, sinh Vũ Đăng Cáp (Hợp), Vũ Đăng Thông, Vũ Thị Điều. Lại lấy NguyễnThị Khoả, xã Bồng lai, huyện Vĩnh lại, sinh Vũ Văn Con ở quê mẹ.

Vũ Đăng Quang, con thứ ba cụ Vũ Đăng Cần, đỗ tú tài, lấy con gái cụ tri phủ Từ Sơn, sinh Vũ Đăng Đại, Vũ Đăng Mẫn.

Vũ Đăng Tứ, con trưởng cụ Vũ Đăng Nguyên, lấy Vũ Thị Tích, phái Kỷ, sinh Vũ Thị Lịch, Vũ Thị Bách, Vũ Thị Thang.

Vũ Đăng Xá, con thứ cụ Vũ Đăng Nguyên, lấy Vũ Thị Hạnh, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Quốc.

Vũ Đăng Môn, con thứ cụ Vũ Đăng Nguyên, lấy Vũ Thị Thể, chi 3, sinh Vũ Đăng Hàn, Vũ Đăng Hoành, Vũ Đăng Hoàn, Vũ Đăng Phiệt, Vũ Đăng Ngư, Vũ Thị Côi.

Vũ Đình Thể, con trưởng cụ Vũ Đăng Đoan, lấy Vũ Thị Bẻo, phái tân sinh Vũ Đăng Kiều, Vũ Đăng Đức, Vũ Thị Nhớn, Vũ Thị Thống, Vũ Thị Nhỡ.

Vũ Đình Trấn, con cụ Vũ Đăng Đoàn, lấy Vũ thị Xuyến, phái đinh, sinh Vũ Thị Đờ, Vũ Thị Ngô.

Vũ Đình Kiên, con cụ Vũ Đăng Đoàn, làm thơ lại, tước cửu phẩm, lấy Vũ Thị Nghị, phái đinh, sinh Vũ Đình Chi, Vũ Đình Văn.

Vũ Đình Ngữ, con thứ tư cụ Vũ Đăng Đoàn, lấy Vũ Thị Mộng, sinh Vũ Đình Muôn.

Vũ Đình Mân, con thứ năm cụ Vũ Đăng Đoàn, lấy Vũ Thị Con, phái canh, sinh Vũ Đình Bào.

Vũ Đăng Sản, con Vũ Đăng Huân, lấy Vũ Thị Ngữ, phái đinh, sinh Vũ Đăng Phát, Vũ Thị Nhớn, Vũ Thị Bé.

Vũ Đăng Huyên, con cụ Vũ Đăng Huân, lấy Nguyễn Thị Thông, phái ất (không rõ).

Vũ Đăng Quyên, con trưởng cụ Vũ Đăng Ban, lấy Vũ Thị Năm, chi 5, sinh Vũ Đăng Gốc, Vũ Đăng Quản, Vũ Đăng Khả, đều đến ở Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Vũ Đăng Bách, con trưởng cụ Vũ Đăng Triệu, lấy Nhữ Thị Năm, người Hoạch Trạch, sinh Vũ Đăng Tòng, Vũ Đăng Mai, Vũ Thị Cỏn, Vũ Thị Ty.

Vũ Đăng Điềm, con trưởng cụ Vũ Đăng Khoát, (không rõ).

Vũ Đăng Tiềm, con thứ cụ Vũ Đăng Khoát, lấy Nhữ Thị Nhớn, sinh Vũ Văn Tiệp, lại lấy Vũ Thị Tơ sinh Vũ Đăng Tiếm.

Vũ Bá Bái, con cụ Vũ Bá Cốt, lấy Vũ Thị Duyên, chi 5. sinh Vũ Bá Phiếm, Vũ Bá Xướng, Vũ Thị Khanh, Vũ Bá Thiên.

Vũ Bá Diêm. Con cụ Vũ Bá Lư, lấy Vũ Thị Bé, phái tân, sinh Vũ Bá Quy, Vũ Thị nhớ. Lại lấy Đỗ Thị Con, xã Gia Hoà, huyện đông Anh, tỉnh Phú Yên, sinh Vũ Bá Mậu, Vũ Thị Bé.

Vũ Bá Vân, con cụ Vũ Bá Nô, lấy Nhữ Thị lang, sinh Vũ Văn Vĩ.

Vũ Đăng Hưởng, con cụ Vũ Đăng Thinh sinh Vũ Đăng Huân, Vũ Trọng Thạc, Vũ Trọng Hoà.

Vũ Đăng Nghĩa, con trưởng Vũ Văn Ty, lấy Nguyễn Thị Hạt người Quang Tiền sinh Vũ Đăng Do, Vũ Đăng Dự, Vũ Thị Tý đều ở quê mẹ, làng Quang Tiền. lại lấy Nguyễn Thị Huyên sinh Vũ Trọng Tuân, Vũ Trọng Thục, Vũ Trọng Thạc, Vũ Trọng Duệ, Vũ Thị Huyên, cùng đều ở Quang Tiền.

Đời thứ mười ba:   Vũ Đăng Nhân, con trưởng Vũ Đăng Sinh, lấy Vũ Thị Bốn, chi 5, sinh Vũ Khắc Trạch, Vũ Thị Huệ, Vũ Thị Sới.

Vũ Đăng Thuỵ, con cụ Vũ Đăng Sinh, đỗ cử nhân, làm Hàn Lâm Viện thị tộc, lấy Vũ Thị Kha, phái Tân, sinh Vũ Đăng Toản. Lại lấy Phạm Thị Phong người xã Lĩnh Đông, huyện Vĩnh Bảo, sinh Vũb Đăng Đại, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Tý, Vũ Thị Vệ.

Vũ Đăng Hợp ( Cáp) con cụ Vũ Đăng Minh, lấy Vũ Thị Nụ, thôn hạ, sinh Vũ Đức Việt.

Vũ Đăng Thông, con cụ Vũ Đăng Minh, đỗ tú tài, lấy Vũ Thị Con, phái đinh, sinh Vũ Thị Đức.

Vũ Văn Con, con cụ Vũ Đăng Minh lấy bà họ Nguyễn, người Dong Cao sinh Vũ Đăng Lan, Vũ Đăng Mạch, vŨ Đăng Ngạch đều ở quê mẹ xã Bồng Lai, huyện Vĩnh Lại.

Vũ Đăng Đại, con cụ Vũ Đăng Quan, không rõ.

Vũ Đăng Mãn, con thứ cụ Vũ Đăng Quang, đỗ tú tài, lấy Vũ Thị Nồng sinh Vũ Đăng Hoàng; lại lấy Vũ Thị Thìn, sinh Vũ Đăng Trị, Vũ Thị Nguyên, Vũ Thị Chính.

Vũ Đăng Quốc, con cụ Vũ Đăng Xá, lấy Vũ Thị Cấn, chi 2, sinh Vũ Đăng Yêm, Vũ Đăng Uyên, Vũ Thị Xây lấy Vũ Đình Thuần; Vũ Thị Bôi lấy Vũ Văn Chướng.

Vũ Đăng Hãn, con  trưởng cụ Vũ Đăng Môn, làm ngõ trưởng, lấy vợ người làng Phú Đa, huyện Mỹ Hào sinh Vũ Thị Luống, Vũ Thị Nầng, Vũ Thị Sầu.

Vũ Đăng Hoành, con thứ cụ Vũ Đăng Môn, lấy vợ người làng An Đông, sinh Vũ Thị Từ, Vụ Thị Bi, Vũ Thị Lánh, Vũ Thị Huyên, Vũ Thị Huyền, Vũ Đăng Mao.

Vũ Đăng Hoàn, con thứ cụ Vũ Đăng Môn, bà cụ họ Lê, sinh Vũ Đăng Chuyền, Vũ Đăng Thiện, lại lấy người làng Há Xá, sinh Vũ Đăng Kế, Vũ Thị Thuật.

Vũ Đăng Phiệt, con thứ cụ Vũ Đăng Môn, lấy người Bá Đông sinh Vũ Đăng Ngân, Vũ Đăng Cân, Vũ Đăng Tăng, Vụ Thị Láng, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Tý.

Vũ Đăng Ngử, con thứ cụ Vũ Đăng Môn, lấy Vũ Thị Ngon chi 3, sinh Vũ Thị Sấu, Vũ Thị Huyện, Vũ Thị Quyên, Vũ Thị Huyên, Vũ Thị Con, Vũ Đăng Tuyên.

Vũ Đăng Kiều, con trưởng cụ Vũ Đăng Thể, lấy vợ phái tân, sinh Vũ Đình Kiên.

Vũ Đình Dắc, con cụ Vũ Đình Thể, lấy Vũ Thị Ảm, không rõ

Vũ Đình Chi, con trưởng cụ Vũ Đình Kiều, lấy Tạ Thị Ấm người Trung Quốc, sinh Vũ Đăng Giác. Lại lấy Vũ Thị Thu, chi 5, sinh Vũ Đình Hoan, Vũ Đình Bình.

Vũ Đình Văn, con thứ cụ Vũ Đăng Kiên ( không rõ).

Vũ Đình Muôn, con cụ Vụ Đình Ngữ, sinh Vũ Đăng Ức.

Vũ Đình Báo, con cụ Vũ Đình Mây sinh Vũ Đình Ảnh.

Vũ Đăng Khản, con cụ Vũ Đăng Sản, lấy Vũ Thị Luật, phái đinh, sinh Vũ Đăng Lễ, Vũ Thị Con.

Vũ Đăng Tòng, con cụ Vũ Đăng Bách, lấy vợ chi 5, sinh Vũ Đăng Du, Vũ Đăng Phổng, Vũ Đăng Quyến. Vũ Thị Lộc, Vũ Thị Bổng.

Vũ Đăng Mai,  con thứ cụ Vũ Đăng Bách, lấy Vũ Thị Tích, sinh Vũ Đăng Mô, Vũ Thị Con.

Vũ Đăng Tiệm, con trưởng cụ Vũ Đăng Tiềm, lấy Vũ Thị Tác, phái đinh, sinh Vũ Thị Cơ, Vũ Thị Con, Vũ Đăng Thiêm, Vũ Đăng Thiệm, Vũ Đăng Kiệm.

Vũ Đăng Tiêm, con cụ Vũ Đăng Tiềm, không có.

Vũ Đang Gốc, Vũ Đăng Quân, Vũ Đăng Khả đều ở quê mẹ Thuận Thành Bắc Ninh nên không rõ.

Vũ Bá Xướng, con cụ Vũ Bá Bái, lấy Vũ Thị Ngọn, chi 5, sinh Vũ Đăng Tẩy.

Vũ Bá Chiêm, con thứ cụ Vũ Bá Bái, lấy Vũ Thị Rẻo, thôn Hạ, sinh Vũ Văn Tấm, Vũ Văn Thầm.

Vũ Bá Quy, con trưởng cụ Vũ Bá Diêm, lấy Vũ Thị Con, sinh Vũ Đăng Khôn, Vũ Đăng Niết, Vũ Thị Hát.

Vũ Bá Môn, hay Lý Từ, con cụ Vũ Bá Diêm lấy Vũ Thị NHớn không rõ.

Đời thứ mười bốn:  Vũ Khắc Trạch, con cụ Vũ Khắc Nhân lấy Vũ Thị Nhớn sinh Vũ Thị Tấm, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Tý, Vũ Khắc Gia. Lại lấy Vũ Thị Mỗ sinh Vũ đăng Bảo.

Vũ Đăng Toản, con trưởng cụ Vũ Đăng Nhuỵ, lấy Vũ Thị Xã, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Hoàng, Vũ Đăng Oanh, Vũ Đăng Dư, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Tí, Vũ Thị Lý.

Vũ Đăng Đại, con thứ cụ Vũ Đăng Thuỵ, lấy Vũ Vũ Thị Bé, phái Kỷ, sinh Vũ Thị Nhớn, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Bảo, Vũ Thị Cỏn, Vũ Thị Con, Vũ Đăng Đạt.

Vũ Đức Nết, con cụ Vũ Đăng Hợp, lấy người thôn hạ, sinh Vũ Đức Triết, Vũ Thị Nhớn, Vũ Thị Bực đi tu.

Vũ Đăng San, Vũ Đăng Mạch, đều là con cụ Vũ Đăng Con đến ở thôn Bằng lai, huyện Vĩnh Lại.

Vũ Đăng Ngạch, con thứ cụ Vũ Đăng Con ở đồn điền tỉnh Bắc Giang.

Vũ Đăng Hoằng, Vũ Đăng Tư, con cụ Vũ Đăng Mản, không rõ đi đâu.

Vũ Đăng Yêm, con trưởng cụ Vũ Đăng Quốc, lấy vợ phía kỷ, sinh Vũ Đăng Khiêm, Vũ Đăng Quých, Vũ Đăng Nhỡ, vũ Đăng Lãng, Vũ Thị tích. Lại lấy Nguyễn thị Tý, con cụ Nguyễn Văn Ngữ sinh: Vũ Đăng Lư, Vũ Thị Lúa, Vũ Thị Con. Cụ Yêm làm lý trưởng 2 lần 14 năm.

Vũ Đăng Uyên, gia đình túng đói lên ở Thổ Hà, Hiệp Hoà, Hà Bắc.

Vũ Đăng Mao, con cụ Vũ Đăng Hoành, , lấy con cụ Bang Oai, Lập Bái, Thái Bình, sinh Vũ Đăng Miêu, Vũ Đăng Hiều, Vũ đăng Khấn, Vũ Đăng Tải, Vũ Thị Nhất, Vũ Thị Nhị, Vũ Thị Nhí Con, Vũ Thị Lùn, Vũ Thị Lùn Con..

Vũ Đăng Chuyện, con trưởng cụ Vũ Đăng Hoan, lấy người thôn hạ sinh Vũ Đăng Chiết, Vũ Thị Chuyên, Vũ Thị Hy, Vũ Thị Hy Con.

Vũ Đăng Thiện, con cụ Vũ Đăng Hoàn, lấy con cụ Vũ Đình nếp, chi 3, sinh Vũ Đăng Khuyến, Vũ Thị Chiện.

Vũ Đăng Kế, con cụ Vũ Đăng Hoàn, lấy Vũ Thị Sấu, con cụ Vũ Đăng Ký, chi 2, sinh Vũ Thị Gấm.

Vũ Đăng Ngân, con trưởng cụ Vũ Đăng Phiệt, lấy Vũ Thị Thích, con cụ Vũ Đình Minh, chi 3, không có con trai.

Vũ Đăng Cân, con cụ Vũ Đăng Phiệt, lấy Vũ Thị Tép, con cụ Vũ Huy Gia, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Quảng, Vũ Thị Kẹo.

Vũ Đăng Tăng, con thứ ba cụ Vũ Đăng Phiệt lấy người Bá Đông, sinh Vũ Thị Bảy.

Vũ Đăng Tuyên, con cụ Vũ Đăng Ngữ, lấy con cụ Đào Toản xã My Nhữ, lại lấy người xã Tiên Kiều sinh Vũ Đăng Chứ, Vũ Thị Băng. Vũ Thị Hạc.

Vũ Đình kiện, Vũ Đình Giác, Vũ Đình Bình, Vũ Đình Khoan, con cụ Vũ Đình Kiên đều không rõ đi đâu.

Vũ đình Lễ, con cụ Vũ Đình Khản, lấy Vũ Thị Di sinh Vũ Đăng  Nhạc (Vết), Vũ Thị Con.

Vũ Đăng Ức, con cụ Vũ Đăng Muôn, không rõ đi đâu.

Vũ Đăng Ảnh, con cụ Vũ Đăng Bào, không rõ đi đâu.

Vũ Đăng Phùng, con cụ Vũ Đăng Tòng sinh Vũ Đăng Phấn, cháu là Vũ Đăng hấn ở phố Hồ, Hải Phòng.

Vũ Đăng Dụ, con cụ Vũ Đăng Tòng, sinh Vũ Đăng Quát.

Vũ Đăng Quyền, con cụ Vũ Đăng Tòng, lấy con gái Lê Duy Chỉ sinh Vũ Đăng Ngoan, Vũ Thị Côi.

Vũ Đăng Mô, con cụ Vũ Đăng Mai, lấy Vũ Thị Toan, con cụ Vũ Huy Toàn, phái Kỷ, sinh Vũ Thị tê, Vũ Thị Đê… Vũ Đăng Kế (Sơn).

Vũ Đăng Thiệm, con trưởng cụ Vũ Đăng Tiệm, lấy Vũ Thị Ngân, con cụ Vũ Huy Đôn, phái Kỷ, sinh Vũ Đănbg Thụ, Vũ Đăng Ấn, Vũ Thị Sỉnh Nhớn, Vũ Thị Sỉnh Con.

Vũ Đăng Thiêm, con thứ cụ Vũ Đăng Tiệm, lấy Vũ Thị Siêu, con cụ Vũ Huy Tiểu, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Hán, Vũ Đăng Huệ, Vũ Đăng Duệ ,Vũ Thị Thu, Vũ Thị Thỉnh, ,Vũ Thị Tựu, Vũ Thị Tý.

Vũ Đăng con thứ ba cụ Vũ Đăng Tiệm, lấy Vũ Thị Nghiêm, con cụ Vũ Phường Điếu, chi 5, sinh Vũ Đăng Sắc, Vũ Thị Kính, Vũ Thị Tẹo, Vũ Thị Tị.

Vũ Bá Tẩy con cụ Vũ Bá Hường không rõ đi đâu.

Vũ Bá Tấm con cụ vũ Bá Chiêm không rõ đi đâu.

Vũ Bá Thấm con cụ Vũ Bá Chiêm không rõ đi đâu .

 Vũ Bá Khổn con cụ Vũ Bá Quy, lấ Lê Thị Bê, con cụ Lê Văn Ngắm sinh Vũ Đăng Tài, Vũ Thị Để, Vũ Thị Tý, Vũ Thị Ty.

Vũ Bá Niết, con thứ cụ Vũ Bá Quý lấy con cụ Nguyễn Đình Thuần sinh Vũ Đăng Ty, Vũ Đăng Phấn, Vũ Thị Mùi. Lại lấy Vũ Thị Đô con cụ Vũ Duy Đăng, chi 5, sinh Vũ Đăng Dương, Vũ Thị Mùi.

Đời thứ mười lăm:   Vũ Khắc Gia, tức cụ cả Lảng, lấy Vũ Thị Nhớn, con cụ đỗ Mễ, chi 3, lại lấy nguyễn Thị Con, con cụ Nguyễn Khang sinh Vũ Đăng Thân, Vũ Đăng Dần. Vũ Khắc Gia là con trưởng cụ Vũ Khắc Trạch.

Vũ Đăng Bảo, con thứ cụ Vũ Khắc Trạch, không rõ đi đâu.

Vũ Đăng Hoàng, con trưởng cụ Vũ Đăng Toản, lấy Vũ Thị Tô, con cụ Vũ Đăng Chiên, chi 5, sinh Vũ Đăng Lê, Vũ Đăng Lưu, Vũ thị Mít, thị Dứa.

Vũ Đăng Oánh, con thứ cụ Vũ Đăng Toản, lấy Vũ Thị Mọc, con cụ Vũ Huy Đố, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Cánh, Vũ Thị Ỏi, Vũ Thị Ổi.

Vũ Đăng Dư, con cụ Vũ Đăng Toản, lấy Lê Thị Các, con Lê Duy Lư, sinh Vũ Thị Tần, Vũ Thị tấn, Vũ Thị Huệ. Vũ Thị Bảy, Vũ Đăng Ngoãn, sinh Vũ Đăng Xuyến, Vũ Đăng Phan.

Vũ Đăng Đạt, con cụ Vũ Đăng Đại, lấy em cụ đồ Nhỡ làng Đan Loan, sinh Vũ Đăng Quật, Vũ Thị Tốt, Vũ Thị Xấu, Vũ Thị Xấu Con.

Vũ Đức Triết, con cụ Vũ Đức Viết, lấy người thôn hạ sinh Vũ Đức Trình, Vũ Đức Biên, Vũ Thị Tý, Vũ Thị Nhỡ, Vũ Thị Con, gia đình ở thôn hạ, tức làng Nhuận Trạch xã Bình Minh.

Vũ Đăng Khiêm, con trưởng cụ Vũ đăng Yêm, lấy Vũ Thị Tẽo, chi 5, sinh Vũ Đăng Liêm, Vũ Đăng Tửu, Vũ Thị Nhớn, Vũ thị Con.

Vũ Đăng Quýnh, con thứ cụ Vũ Đăng Yêm, lấy Vũ Thị Nhớn, con cụ Vũ Xuân Giản sinh Vũ Đăng Bất.

Vũ Đăng Nhỡ, con cụ Vũ Đăng Yêm, lấy Vũ Thị Thi, con cụ Vũ Xuân Tuỳ, sinh Vũ Đăng Thử.

Vũ Đăng Tý, tức Vũ Đăng Lãng, chết đới năm 1945.

Vũ Đăng Lư, con thứ 5 cụ Vũ Đăng Yêm, lấy Lê Thị Dựng, con cụ Lê Duy Nhưng, sinh Vũ Đăng Diệp, Vũ Đăng Quyết, Vũ Đăng Hưởng, Vũ Thị nhớn, Vũ Thị Ba,Vũ Thị Cúc, lại lấy Vũ thị Khiếu, con Vũ Đăng Lạng chi 5, sinh Vũ Đăng Tĩnh.

Vũ Đăng Miêu, con trưởng Vũ Đăng mao, lấy Vũ Thị Con, con cụ Vũ Đình Tá, chi 3, sinh Vũ Đăng Đắc, Vũ Đăng Lục, Vũ Thị Tách, lại lấy Vũ Thị Với con cụ Vũ Duy Lầm sinh Vũ Đăng Nhân, Vũ Đăng Nhất, Vũ Đăng Đới, Vũ Thị Mõ, Vũ Thị Mỗ.

Vũ Đăng Hiền, con thứ hai cụ Vũ Đăng Mao, lấy người thôn Hui huyện Gia Lộc, sinh Vũ Đăng Cao, Vũ Đăng Hiển, thị…, thị…

Vũ Đăng Khấn, con thứ ba cụ Vũ Đăng Mao, lấy người thôn hạ, sinh Vũ Đăng Ái, Vũ Đăng Huần, Vũ Thị Nguyện, thị…, thị….

Vũ Đăng Tải, con thứ tư cụ Vũ Đăng Mao, lấy Vũ Thị Thoa, con cụ Vũ Huy Kim, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Báu, Vũ Đăng Nghĩa, Vũ Đăng Đạo.

Vũ Đăng Triết, con cụ Vũ Đăng Chuyển, lấy Lê Thị Con, con Lê Duy Khiển, sinh Vũ Đăng Toan, Vũ Thị Tơ. Lại lấy Thị An, cháu ngoại cụ Vũ Xuân Huyên, phái đinh sinh Vũ Đăng Toàn.,

Vũ Đăng Quảng, con cụ Vũ Đăng Câu, lấy người An Đôi sinh Vũ Đăng Trác, Vũ Đăng Đông.

Vũ Đăng Chừ, con Vũ Đăng Tuyên, lấy Vũ Thị con gái Vũ Trọng Huệ, chi 5, sinh 3 gái.

Vũ Đăng Vết, con cụ Vũ Đăng Lê, lấy Vũ Thị Nho, thôn Hạ, sinh Vũ Đăng Ấu, Vũ Đăng Yếm, Vũ Đăng Ba.

Vũ Đăng Quất, con cụ Vũ Đăng Du, lấy con Vũ Đình Cát, sinh Vũ Đình Phàn.

Vũ Đình Phấn, con cụ Vũ Đăng Phúng simnh Vũ Đăng Hấu.

Vũ Đăng Ngoan, con cụ Vũ Đăng Quyền, lấy con cụ Vũ Xuân Tất, phái đinh sinh Vũ Đăng Ranh, Vũ Thị Nhới.

Vũ Đăng Kế, con cụ Vũ Đăng Mô, ở Đại Từ, Bắc Thái sinh Vũ Đăng Hỉ, Vũ Đăng Lạc.

Vũ Đăng Thụ, con cụ Vũ Đăng Thiệm lấy người Đường Xá sinh Vũ Thị Thắm, lại lấy người Nam Sách sinh Vũ Thị Hoà.

Vũ Đăng Ấn, con thứ cụ Vũ Đăng Thiệm, lấy Vũ Thị Thân, con cụ Đăng Giảng chi 5 sinh.

Vũ Đăng Hán, con cụ Vũ Đăng Thiệm, lấy Vũ Thị Con, con Vũ Đăng Hồ, chi 5, sinh Vũ Đăng Hàn, Vũ Thị Ve.

Vũ Đăng Huệ, con cụ Vũ Đăng Thiệm, lấy Vũ Thị Tỵ, con cụ Vũ Đăng Trịnh, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Hiên, Vũ Đăng Hiện, Vũ Thị Lan, Vũ Thị Nhài, Vũ Thị Vân, Vũ Thị Mai.

Vũ Đăng Duệ, con cụ Vũ Đăng Thiệm, lấy người Gia Lộc sinh Vũ Đăng Chí.

Vũ Đăng Sắc, tức Tần con cụ Vũ Đăng Kiệm, lấy con Vũ Xuân Tuý, sinh Vũ Thị Ngần, Vũ Thị Khuê, Vũ Thị Khuề.

Vũ Đăng Tại, con cụ Vũ Bá Khốn sinh Vũ Đăng Ngòi.

Vũ Đăng Ty, laýâ con cụ Vũ Phương Mưu, chi 5, sinh Vũ Đăng Tuyết, Vũ Đăng Túc, Vũ Đăng Thọ, Vũ Thị Gái.

Vũ Đăng Phận, con cụ Vũ Đăng Niết, lấy Vũ Thị Liểng con cụ Vũ Đăng Tà, chi 5, sinh Vũ Đăng Phong, lại lấy nguời Hoạch Trạch sinh Vũ Đăng Cảnh, Vũ Đăng Thạnh, Vũ Thị Xuân.

Vũ Đăng Vi, con cụ Vũ Đăng Niết, lấy vợ người Mỹ Hào sinh các con ở Gia Lộc, còn tên là Vũ Đăng Dượng.

Đời thứ 16:  Vũ Đăng Thân, con cụ Vũ Khắc Gia, lấy con cụ Vũ Phương Húng, chi 5, sinh Vũ Đăng Giáp, Vũ Đăng Bảng, Vũ Thị Gái, Thị Hồng, Thị Nghi.

Vũ Đăng Dần, con thứ cụ Vũ Khắc Gia, lấy con cụ Vũ Khắc Sa, phái Kỷ, sinh Vũ Đăng Dậu, Vũ Đăng Hợi, công bà vào Nam 1951.

Vũ Đăng Lệ, con trưởng Vũ Đăng Hoàng, lấy Vũ Thị Con, con cụ Vũ Trọng Gián, chi 5 sinh Vũ Đăng Lưu.

Vũ Đăng Cách, con cụ Vũ Đăng Oách, lấy con cụ Vũ Huy Kim, phái Kỷ, sinmh Vũ Huy Như, Vũ Thị Ré, lãi lấy Nguyễn Thị Gái, con cụ Nguyễn Văn Cách sinh Nguyễn Đăng Bằng, Vũ Đăng Quy.

Vũ Đăng Ngoãn, con trưởng cụ Vũ Đăng Dư, lấy con cụ Vũ Duy Đoán, chi 3, sinh Vũ Đăng Chính, vũ Thị..

Vũ đăng Xuyến, con thứ cụ Vũ Đăng Dư, lấy con cụ Vũ Huy Lệ, sinh Vũ Đăng Xuyên, Vũ Đăng San, Vũ Đăng Sơn, Vũ Thị Suyền, thị Sấu…lại lấy con cụ Vũ Phương Thi sinh Vũ Đăng.

Vũ Đăng Phan, con thứ cụ  Vũ Đăng Dư, lấy con cụ Vũ Xuân Trần, phái đinh, sinh Vũ Đăng Phiên, Vũ đăng.

Vũ Đăng Quát, con cụ Vũ Đăng Đạt, lấy con cụ Vũ Duy Tôn, chi 5, sinh vũ Đăng Kính, Vũ Đăng Quyến, Vũ Đăng Nhĩ.

Vũ Đức Trình, sinh Vũ Đức Bình ở Thôn Hạ, Nhuận Trạch.

Vũ Đức Biên, con cụ Vũ Đức Triết sinh Vũ Đức Phôn, Vũ Đức Phiên , Vũ Đức… đèu ở Nhuận Trạch.

Vũ Đăng Liêm, con cụ Vũ Đăng Khiêm chết sớm.

Vũ Đăng Khiết tức Vũ Đăng Tửu, con cụ Vũ Đăng Khiêm lấy người Ngọc Lam, Mỹ Hào sinh Vũ Thị Hà, Vũ Thị HƯơng.

Vũ Đăng bất, con cụ Vũ Đăng Quýnh, lấy Tạ Thị Se, con cụ Tạ Văn Soi sinh Vũ Đăng Kíu, vũ đăng cần, Vũ Đăng Công, Vũ Thị Hữu, Vũ Thị Lộc, Vũ Thị Minh.

Vũ Đăng Thử, con Vũ Đăng Nhỡ, lấy con cụ Vũ Trọng hiếu chi 5 sinh Vũ Đăng Xuân, Vũ Thị Mai, lại lấy con cụ Vũ Xuân Thể, sinh Vũ Đăng Côi, Vũ Thị Đào, Vũ Thị Mận.

Vũ Đăng Diệp, con trưởng cụ Vũ Đăng Lư, lấy Tạ Thi Xuyên, con Tạ Văn Rô, sinh Vũ Đăng Nhiếp, Vũ Đăng Toản, Vũ Thị…



[1]

(1) Hiện nay ở Chùa còn có một bia đá để là “Tự  thêu tiên sinh từ đường vi ký” kể sự tích của thần sinh ra tiến sỉ Vũ Tỉnh, phái Bính.

 

Người đăng: huythuan